
 Sapo.png)
Trong không gian làm việc quen thuộc ngay tại ngôi nhà của gia đình Nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa - chồng Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh, những công đoạn làm tranh Đông Hồ vẫn diễn ra đều đặn. Cùng với nhịp tay thoăn thoắt của người thợ là những lượt khách ghé thăm, người dừng lại tìm hiểu, trải nghiệm, người chọn mua vài bức tranh mang về. Thế nhưng, không phải ngày nào ngôi nhà nhỏ ấy cũng có khách ra vào tấp nập.
Dù vẫn tham gia các hội chợ văn hóa hay sự kiện do địa phương tổ chức, nguồn thu từ nghề của các nghệ nhân hiện vẫn chủ yếu phụ thuộc vào khách tham quan tại nhà. Việc bán tranh cho du khách từng được kỳ vọng trở thành đầu ra ổn định, song đến nay vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi.
 Tít 1.png)
Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ bắt nguồn từ làng Đông Hồ, xã Song Hồ (nay thuộc phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), là một trong những dòng tranh dân gian tiêu biểu của Việt Nam với lịch sử khoảng 500 năm. Dòng tranh này từng phát triển rực rỡ nhất vào những năm 40 của thế kỷ XX, khi gần như cả làng cùng sống bằng nghề làm tranh và hàng mã.
Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, người dân trong làng trước đây phân chia công việc theo mùa vụ khá rõ ràng: “Các cụ xưa, từ Tết đến rằm tháng Bảy làm hàng mã, còn từ rằm tháng Bảy đến Tết thì làm tranh, cho nên tranh Đông Hồ còn gọi là tranh Tết”.
Không đơn thuần là một sản phẩm nghệ thuật dân gian, tranh Đông Hồ còn tái hiện sinh động đời sống của xã hội nông nghiệp truyền thống, từ lao động sản xuất đến phong tục, tập quán và sinh hoạt thường nhật của người Việt. Được làm hoàn toàn thủ công, mỗi bức tranh đòi hỏi sự tỉ mỉ trong từng công đoạn, từ khắc ván, pha màu đến in tranh. Nội dung tranh thường xoay quanh bảy nhóm chủ đề chính gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.

Ngày 9/12/2025, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ trở thành di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Tuy nhiên, phía sau sự ghi nhận ấy vẫn là không ít trăn trở của những người làm nghề.
Là dòng tranh được tạo nên hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, tranh Đông Hồ đòi hỏi sự tỉ mỉ trong từng công đoạn cùng nền tảng tri thức nghề được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chính đặc trưng này giúp tạo nên giá trị riêng của dòng tranh, nhưng đồng thời cũng khiến năng suất sản xuất thấp, khó cạnh tranh với các sản phẩm in công nghiệp có giá thành rẻ, mẫu mã đa dạng và khả năng sản xuất hàng loạt.
Khi đời sống ngày càng hiện đại, thói quen tiêu dùng và nhu cầu thưởng thức văn hóa cũng dần thay đổi. Tranh Đông Hồ, đặc biệt là thú chơi tranh dịp Tết, không còn giữ được sức hút như trước. Đầu ra ngày càng thu hẹp, thu nhập thiếu ổn định khiến nhiều người làm nghề gặp khó trong việc gắn bó lâu dài. Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, đây vẫn là một trong những bài toán lớn nhất mà tranh Đông Hồ đang phải đối mặt hiện nay.

 Tít 2.png)
Việc được UNESCO ghi danh không đồng nghĩa với việc tranh Đông Hồ đã thoát khỏi nguy cơ mai một. Bài toán đặt ra hiện nay không chỉ là giữ lại một nghề truyền thống, mà còn là tìm cách để nghề ấy tiếp tục tồn tại trong đời sống đương đại. Khi số hộ theo nghề ngày càng ít, nhiều nghệ nhân đã lớn tuổi trong khi sinh kế vẫn bấp bênh, câu chuyện bảo tồn tranh Đông Hồ cần một hướng đi dài hạn và thực chất hơn, gắn với nhu cầu sống còn của cộng đồng làm nghề.
Hiện nay, dù hình ảnh tranh Đông Hồ xuất hiện ngày càng nhiều trong các sản phẩm phái sinh hay hoạt động truyền thông, những chuyển biến này vẫn chưa thực sự tạo ra nguồn thu ổn định và bền vững cho chính những người đang ngày ngày gìn giữ nghề.
 ket-qua-dau-ra.png)
Từ thực tế đó, theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, bảo tồn tranh Đông Hồ cần nhiều hơn những hoạt động quảng bá mang tính ngắn hạn. Điều người làm nghề cần là các chính sách thiết thực hơn, từ đào tạo thế hệ kế cận, hỗ trợ duy trì sản xuất đến mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Ông cũng bày tỏ sự trân trọng khi tỉnh Bắc Ninh thời gian qua đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đối với nghệ nhân và các làng nghề truyền thống, trong đó có tranh dân gian Đông Hồ. Theo ông, việc được UNESCO ghi danh không chỉ là sự ghi nhận giá trị di sản mà còn mở ra thêm cơ hội để tháo gỡ những khó khăn tồn tại nhiều năm qua.
Từ đó, nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa kỳ vọng nghề làm tranh Đông Hồ sẽ từng bước được phục hồi, có thêm người trẻ gắn bó và dần tìm lại chỗ đứng trong đời sống hiện đại. Để điều đó trở thành hiện thực, hành trình bảo tồn tranh Đông Hồ cần được bắt đầu từ chính những người làm nghề. Khi sinh kế chưa được đảm bảo, việc gìn giữ và truyền nghề khó có thể bền vững. Chỉ khi cộng đồng được trao cơ hội phát triển và chính sách hỗ trợ đi đúng nhu cầu thực tế, dòng tranh từng in đậm dấu ấn trong đời sống văn hóa Việt mới có thể tiếp tục hiện diện trong tương lai.
Ý kiến bạn đọc (0)