Công nghiệp Bắc Giang - Hành trình từ không đến có - Bài 1: Từ phi công bất phú đến nghị quyết phát triển công nghiệp
“4L” một thủa
Tỉnh Bắc Giang được tái lập ngày 1/1/1997 với diện tích đất tự nhiên hơn 380 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 77%. Tỉnh có địa hình trung du; phía Bắc và phía Đông Nam là vùng rừng núi cao; vùng đồi núi thấp và đồng bằng trung du nằm giữa hai dãy núi hình cánh cung là Đông Triều (phía Đông Nam) và Bắc Sơn (phía Tây - Bắc).
![]() |
|
Bắc Giang là tỉnh có tiềm năng, thế mạnh phát triển nông nghiệp. Ảnh: VH. |
Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt. Những điều kiện trên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Thực tế, nông dân Bắc Giang không mấy khi mất mùa song “phi công” thì “bất phú”. Những năm đầu tái lập tỉnh, dù ở nhiều địa phương sản xuất ba vụ/năm (hai vụ lúa, một vụ đông) song đời sống người dân vẫn rất khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo cao.
Theo ông Vũ Đình Phượng, nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, một trong những “điểm nghẽn” của tỉnh thời kỳ đó là sản xuất nông nghiệp phần lớn tự cung tự cấp. Cây trồng chính là lúa, khoai lang và cây lạc, còn vật nuôi phần nhiều là lợn, gà song nuôi theo kiểu tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp.
Đã vậy, ứng dụng khoa học công nghệ trên đồng ruộng gặp nhiều trở ngại do tập quán canh tác, hạ tầng canh tác yếu và thiếu. Thời điểm đó, bình quân mỗi hộ có hơn chục thửa ruộng nằm rải rác ở các xứ đồng. “Giống cũ, kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội tỉnh. Làng quê vẫn quen với hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau”, ông Phượng nói.
Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn nhớ như in chuyến đi thực tế tại xã Tân Liễu (Yên Dũng) hơn 20 năm trước. Dù chỉ cách TP Bắc Giang chưa đến chục cây số song đời sống của người dân rất khó khăn. Xã có ba thôn là Tân Độ, Liễu Nham và Liễu Đê với hơn 1.100 hộ. Thời điểm chúng tôi đến khảo sát, dù mới sang tháng Hai, nghĩa là khoảng hai tháng nữa mới đến vụ thu hoạch lúa chiêm song quá nửa trong số 250 hộ ở thôn Tân Độ đã hết gạo, phải đi vay mượn, làm thuê theo kiểu “chạy ăn từng bữa”.
Lãnh đạo xã khi đó lý giải do dân số đông, đất sản xuất có hạn, năng suất chỉ ở ngưỡng trung bình nên cây lúa không thể mang đến no đủ cho con người dù rằng có thừa sự chịu thương chịu khó. Và để duy trì cuộc sống, người dân Tân Liễu phải đi làm đủ nghề, từ ve chai, chạy chợ cho đến tham gia vào các “chợ lao động” ở TP Bắc Giang, Lạng Sơn...
Ở huyện Lục Ngạn - trọng điểm phát triển cây ăn quả của tỉnh ngày nay, hơn 20 năm trước đời sống của người dân còn khó khăn hơn. Nhớ lại, chúng tôi vẫn hình dung hình ảnh chị Hoàng Thị Phê ở xã Phong Vân (Lục Ngạn) khi đó. Trong câu chuyện đứt quãng bên ngôi nhà tranh siêu vẹo, người phụ nữ nhỏ nhắn, tỏ rõ sự cam chịu ấy chia sẻ cả tháng nay ngày nào mẹ con chị cũng phải vào rừng kiếm củi gánh ra chợ Tân Sơn cách đó hơn chục cây số bán lấy tiền đong gạo.
Hôm nào không lấy được củi hoặc lấy song không bán được thì cả nhà 7 miệng ăn phải húp cháo qua bữa hoặc nhịn đói. Mà không chỉ gia đình chị Phê, non nửa hộ dân ở xã Phong Vân và nhiều xã vùng cao của huyện khi đó thuộc diện đói nghèo và câu chuyện về “tháng Ba ngày Tám” của những năm chưa xa sẽ còn theo mỗi người cho đến hôm nay.
Lần giờ những số liệu thời điểm mới tái lập tỉnh cho thấy, năm 1997, sản lượng lương thực quy thóc đạt hơn 549 nghìn tấn; giá trị canh tác trên 1 ha đất nông nghiệp khoảng 13,1 triệu đồng/năm. Năm 2000, năng suất lúa vụ xuân - vụ được đánh giá cao nhất trong nhiều năm song cũng chỉ đạt 43 tạ/ha.
Do nhiều cái khó nên cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch chậm, cây lương thực phục vụ nhu cầu tại chỗ vẫn là chủ yếu. Ở các huyện miền núi, vùng cao, canh tác gần như phụ thuộc vào thời tiết nên năm được, năm mất, đời sống của người dân còn khó khăn gấp bội. Tại Sơn Động, vụ mùa năm 1999 huyện xảy ra hạn hán vào cuối vụ; tiếp đó vụ chiêm xuân 2000 hạn lại xảy ra nên sản xuất bị thiệt hại nặng, toàn huyện có gần 40% hộ nghèo đói.
Trái ngọt từ quyết tâm bứt phá
Năm 1997, Bắc Giang chỉ có 1 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép hoạt động với vốn đăng ký gần 793 nghìn USD; 18 doanh nghiệp (DN) quốc doanh, 25 DN tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo đánh giá, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (TTCN) địa phương quy mô nhỏ, nhiều đơn vị mới ở dạng tổ hợp sản xuất, hợp tác xã cơ khí, sản phẩm chủ yếu là xe cải tiến, máy tuốt lúa…
![]() |
|
Dây chuyền sản xuất của Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc. Ảnh: VH. |
Tỉnh có hai DN đầu tàu là Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc và Công ty Xi măng Hương Sơn song phân đạm Hà Bắc bắt đầu bước vào giai đoạn khó khăn còn xi măng Hương Sơn sản xuất theo công nghệ lò đứng, sản phẩm làm ra khó cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó hạ tầng cơ sở của tỉnh thấp kém, lạc hậu, nhất là giao thông.
Đồng chí Nguyễn Quốc Cường, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, từ năm 1998-2005 là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, nhớ lại: “Sau ngày tái lập, Bắc Giang là tỉnh thuần nông, kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân rất khó khăn.
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thực tế địa phương, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề ra quyết sách phát triển công nghiệp và thực tế cho thấy đây là hướng đi đúng”.
Để thống nhất mục tiêu, quan điểm, giải pháp thực hiện, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2000-2005 xác định “khai thác tiềm năng, nội lực, có cơ chế, chính sách khuyến khích, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ từ trung ương tập trung đầu tư phát triển công nghiệp- TTCN”. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết về Chương trình phát triển công nghiệp - TTCN giai đoạn 2001 - 2005; đồng thời xác định các “năm công nghiệp” để tập trung chỉ đạo.
![]() |
|
Quyết định số 121, ngày 3/7/2000 của UBND tỉnh Quy định về ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2000- 2010. |
Thực tế, khi triển khai nghị quyết về phát triển công nghiệp, một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ bởi điểm xuất phát về công nghiệp của tỉnh hầu như không có gì. Để thực hiện nghị quyết, hàng loạt quyết sách ra đời. Nhằm thu hút DN đầu tư, ngày 3/7/2000, UBND tỉnh ban hành Quyết định 121 quy định ưu đãi, khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh, đây được coi là quyết định “khai sơn, phá thạch”, tạo tiền đề ra đời hàng loạt quyết định về cải thiện môi trường đầu tư sau này.
Điểm chung của các chính sách ưu đãi của tỉnh đều thể hiện phương châm “quyền lợi ở mức tối đa, nghĩa vụ ở mức tối thiểu” cho các nhà đầu tư theo khung quy định của Nhà nước. Tỉnh thành lập Ban Quản lý Các khu công nghiệp; xuất bản các tài liệu giới thiệu tiềm năng, cơ hội đầu tư; cử các đoàn công tác vào các tỉnh phát triển mạnh công nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… học tập kinh nghiệm quản lý, phát triển công nghiệp để vận dụng, chỉ đạo thực hiện; tổ chức các hội nghị kêu gọi đầu tư.
Vừa làm vừa rút kinh nghiệm, trên tinh thần lắng nghe ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý và DN, năm 2002, UBND tỉnh ban hành Quyết định 34 thay thế Quyết định 121 để tạo “đột phá” mới về ưu đãi, thu hút đầu tư, quy định rõ trình tự thủ tục đầu tư theo cơ chế “một cửa”, “một đầu mối”.
|
Từ thành quả bước đầu trong phát triển công nghiệp, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cấp ủy, chính quyền rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích để tiếp tục vạch ra chủ trương, quyết sách lớn “soi đường, chỉ hướng” cho sự phát triển những năm sau, nổi bật là ra đời Khu công nghiệp Đình Trám - “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư phát triển công nghiệp đầu tiên của tỉnh. |
Theo đó, các nhà đầu tư có nhu cầu thành lập DN và đầu tư tại Bắc Giang chỉ cần liên hệ đến đầu mối là Sở Kế hoạch và Đầu tư, sau đó Sở sẽ có trách nhiệm phối hợp giải quyết đầy đủ thủ tục liên quan. Cách làm này đã tạo sự tin tưởng và thiện cảm với nhiều nhà đầu tư trong nước, nước ngoài.
Bên cạnh ưu đãi thu hút đầu tư, tỉnh huy động các nguồn lực đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông. Đầu những năm 2000, hàng loạt tuyến đường như quốc lộ 1A, 37, 31, các tuyến đường tỉnh về Yên Dũng, lên Tân Yên, Yên Thế được nâng cấp; hàng loạt cây cầu như cầu: Chũ, Bố Hạ, Lục Nam, Vát, Mỹ Độ… được xây dựng tạo sự kết nối giữa các vùng, miền trong tỉnh, thông thương với các tỉnh bạn để hấp dẫn nhà đầu tư.
Từ triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp, tình hình thu hút đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh đã thu được trái ngọt. Năm 2001 - năm đầu tiên thực nghị quyết về phát triển công nghiệp, chỉ tính riêng vốn đầu tư nước ngoài đã tăng 3 lần so với 10 năm trước cộng lại.
Năm 2002, số vốn này tăng 1,5 lần so với cả năm 2001. Nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài đã bén duyên và làm ăn có hiệu quả trên địa bàn tỉnh, nổi bật như: Công ty TNHH Vietpan Pacific chuyên về may mặc, Công ty TNHH bánh kẹo thực phẩm Tích Sỹ Giai… với vốn đầu tư gần 6,5 triệu USD. Cùng đó, hàng chục dự án đầu tư trong nước tiếp tục đầu tư vào tỉnh.
So với một số tỉnh như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc... dù vốn đầu tư vào tỉnh khi đó còn khiêm tốn nhưng đã đóng góp quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ.
Song điều quan trọng là từ thành quả bước đầu đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cấp ủy, chính quyền rút ra những bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vạch ra chủ trương, quyết sách lớn “soi đường, chỉ hướng” cho phát triển công nghiệp những năm sau, nổi bật là sự ra đời Khu công nghiệp Đình Trám - “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư phát triển công nghiệp đầu tiên của tỉnh.
(Còn nữa)
Nhóm PV
Bắc Ninh

























Ý kiến bạn đọc (0)