Di sản văn hóa phi vật thể - Những giá trị cần bảo vệ
BẮC NINH - Với 2.276 di sản văn hóa phi vật thể thuộc 6 loại hình, Bắc Ninh sở hữu kho tàng văn hóa đa dạng, giàu bản sắc. Cùng với sự phong phú ấy, một số di sản đang đứng trước nguy cơ mai một cần có giải pháp bảo vệ kịp thời.
Phong phú loại hình
Là vùng đất giàu truyền thống, Bắc Ninh đang sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, phản ánh sinh động bản sắc và sức sống văn hóa của vùng đất Kinh Bắc. Theo Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể năm 2026, toàn tỉnh hiện có 2.276 di sản thuộc 6 loại hình. Trong đó, lễ hội truyền thống chiếm số lượng lớn nhất với 790 di sản; tập quán xã hội và tín ngưỡng 693 di sản; biểu đạt và truyền thống truyền khẩu 251 di sản; nghệ thuật trình diễn dân gian 242 di sản; tri thức dân gian 160 di sản và nghề thủ công truyền thống 140 di sản. Toàn bộ hệ thống di sản này được phân bố tại 99 xã, phường, bao trùm từ không gian đô thị đến các thôn, bản.
![]() |
|
Trình diễn và giới thiệu nghề dệt vải truyền thống của đồng bào dân tộc Cao Lan ở xã Lục Sơn tại Festival "Về miền di sản - 2026". |
Cùng với kiểm kê, Bắc Ninh còn chú trọng lập hồ sơ đề nghị đưa những di sản tiêu biểu vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đến nay, toàn tỉnh có 33 di sản được đưa vào Danh mục quốc gia, trong đó 6 di sản được UNESCO ghi danh, gồm: Dân ca quan họ Bắc Ninh; ca trù; thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt; thực hành then của người Tày, Nùng, Thái; nghi lễ và trò chơi kéo co làng Hữu Chấp; nghề làm tranh dân gian Đông Hồ.
Trong năm 2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị đưa nghệ thuật múa rối nước Đồng Ngư, nghi lễ dâng xôi gà làng Nghi Khúc, lễ hội Tứ Pháp vùng Dâu, lễ hội đền Dành và nghề nấu rượu làng Vân vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc chủ động nhận diện, lập hồ sơ các di sản tiêu biểu tạo cơ sở để xây dựng chính sách bảo vệ, trao truyền và phát huy giá trị phù hợp hơn.
Di sản văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần gắn với cộng đồng, được tái tạo và trao truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, sức sống của di sản không chỉ được đo bằng số lượng hay giá trị được ghi nhận mà quan trọng hơn là khả năng tiếp tục được thực hành, trao truyền và hiện diện trong đời sống.
Ưu tiên bảo vệ di sản có nguy cơ mai một
Trong 6 di sản được UNESCO ghi danh, 3 di sản duy trì sức sống tốt; 3 di sản còn lại gồm ca trù, thực hành then của người Tày, Nùng, Thái và nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đang có nguy cơ mai một.
![]() |
|
Di sản Ca trù - loại hình nghệ thuật truyền thống kén khán giả đòi hỏi cơ chế, chính sách phù hợp để bảo tồn và phát huy giá trị. |
Đáng lo ngại là một số loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian như hát sloong hao, hát sli, lượn, dân ca Dao, múa chuông, ca trù, tuồng cổ... đang gặp khó khăn về không gian thực hành trình diễn. Đội ngũ nghệ nhân, người thực hành phần lớn đã cao tuổi, trong khi việc phát hiện, thu hút và trao truyền cho thế hệ kế cận rất hạn chế.
| Di sản văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần gắn với cộng đồng, được tái tạo và trao truyền qua nhiều thế hệ bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Vì vậy, sức sống của di sản không chỉ được đo bằng số lượng hay giá trị được ghi nhận mà quan trọng hơn là khả năng tiếp tục được thực hành, trao truyền và hiện diện trong đời sống. |
Ở nhóm nghề thủ công truyền thống, nguy cơ mai một cũng hiện hữu. Các nghề làm giấy dó, dệt vải, may, thêu của người Cao Lan ở Lục Sơn đang chịu sức ép từ sự thu hẹp không gian thực hành và lực lượng kế cận. Là một trong 3 gia đình còn duy trì nghề làm giấy dó ở thôn Vĩnh Ninh (bản Khe Nghè cũ), ông Dương Văn Quang, 59 tuổi, dân tộc Cao Lan, cho biết: Kỹ thuật làm giấy dó không khó, nhưng để tạo ra những tờ giấy đạt chất lượng đòi hỏi người làm nghề phải tích lũy nhiều năm kinh nghiệm. Song do thị trường đầu ra hạn chế, thu nhập từ nghề chưa ổn định nên việc thu hút người trẻ gắn bó lâu dài với nghề rất khó. Nếu không có giải pháp hỗ trợ phù hợp, nguy cơ mai một nghề sẽ kéo theo sự thất truyền của những kỹ năng, bí quyết và tri thức nghề được tích lũy, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở nhóm di sản về tiếng nói và tri thức dân gian. Những người am hiểu, nắm giữ và thực hành các giá trị này phần lớn đều tuổi cao, trong khi lớp trẻ ít có nhu cầu tiếp cận, thực hành khiến nhiều giá trị có nguy cơ mai một.
![]() |
|
Nghệ thuật múa rối nước Đồng Ngư đang được lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. |
Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là phân loại và xác định đúng những di sản có nguy cơ mai một để ưu tiên nguồn lực bảo vệ. Mỗi loại hình có đặc điểm riêng, vì vậy cần thiết kế giải pháp phù hợp từng loại hình thay vì triển khai dàn trải. Trọng tâm là tạo điều kiện để nghệ nhân, người thực hành di sản duy trì hoạt động và truyền dạy; mở rộng không gian thực hành, trình diễn; tạo cơ hội để thế hệ trẻ tiếp cận, tham gia và kế thừa. Quá trình này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, nghệ nhân và người dân. Quan trọng hơn, chủ thể của di sản phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm.
Ông Nguyễn Văn Đáp, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận định, cộng đồng là đối tượng thụ hưởng, cũng chính là chủ thể sáng tạo, thực hành và trao truyền di sản. Vì vậy, bảo vệ di sản trước hết phải tạo điều kiện để người dân tiếp tục thực hành, nghệ nhân có môi trường truyền dạy và thế hệ trẻ có cơ hội tiếp cận, kế thừa. Nếu di sản chỉ tồn tại trong hồ sơ, trưng bày hoặc những chương trình biểu diễn mà thiếu người thực hành, thiếu không gian văn hóa để trao truyền, sức sống của di sản rất khó duy trì bền vững.

















Ý kiến bạn đọc (0)