Kinh Bắc, miền đất khoa bảng
BẮC NINH - Bao đời nay, Kinh Bắc được nhắc đến là miền đất văn hiến, khoa bảng với những câu phương ngôn đã đi vào tâm thức nhiều thế hệ như: "Đi lên gặp Tiến sĩ, đi xuống gặp Quận công" hay quê hương của những ông Trạng, ông Nghè, ông Cống... Lời truyền tụng ấy là sự khái quát cô đọng về một vùng đất hội tụ hiền tài, nơi truyền thống hiếu học đã trở thành cốt cách văn hóa, góp phần kiến tạo nền văn hiến và bản sắc Bắc Ninh.
Quê hương của những ông Trạng, ông Nghè, ông Cống...
Trong gần một nghìn năm khoa cử phong kiến Việt Nam, vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc có số người đỗ đại khoa đứng đầu cả nước với gần 700 vị được lưu danh bia đá tại Văn Miếu Bắc Ninh. Thống kê của cơ quan chuyên môn cho thấy, kể từ khoa thi Minh kinh bác học năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng thời Nguyễn năm Kỷ Mùi (1919), nước ta có 183 khoa thi với 2.898 vị đỗ đại khoa. Trong đó, xứ Kinh Bắc có gần 700 vị đỗ đại khoa, được ngợi ca là vùng đất khoa bảng tiêu biểu bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
![]() |
|
Du khách tìm hiểu truyền thống hiếu học, khoa bảng vùng đất Kinh Bắc qua triển lãm, trưng bày tư liệu Nho học tại Văn Miếu Bắc Ninh (phường Võ Cường). |
Không chỉ nhiều về số lượng, đội ngũ hiền tài đất Kinh Bắc còn hội tụ đầy đủ các học vị cao quý nhất của chế độ khoa cử phong kiến. Nổi bật là khoa thi Mậu Thìn năm 1508 dưới triều Lê Uy Mục đã ghi dấu một thành tích hiếm có trong lịch sử khi cả ba danh hiệu cao nhất là: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa đều thuộc về người Kinh Bắc.
Các nhà khoa học đã khảo cứu và chỉ ra rằng, đặc điểm xuất thân của các bậc đại khoa ở Kinh Bắc cũng rất đa dạng, từ giám sinh, nho sinh, tri phủ, tri huyện đến thường dân và có độ tuổi chênh lệch tương đối lớn. Có người đỗ đạt khi tuổi còn rất trẻ như Nguyễn Nhân Thiếp ở Kim Đôi đỗ đại khoa lúc mới 15 tuổi, lại có những người ngoài 60 tuổi vẫn nuôi nghiệp bút nghiên, tiêu biểu như cụ Quách Đồng Dần ở Phù Khê đỗ Tiến sĩ lúc 68 tuổi và trở thành người đỗ đại khoa cao tuổi nhất cả nước.
Phần lớn người đỗ đạt vinh hiển là con em dòng dõi của những danh gia vọng tộc có truyền thống khoa bảng lâu đời. Mặc dù vậy, ở Kinh Bắc có nhiều người từ tầng lớp bình dân, nhờ ý chí và nghị lực đã vươn lên bằng con đường học vấn. Tiêu biểu như Thái Thuận quê ở Song Liễu, thuở nhỏ chỉ là người chăn voi nhưng nhờ khổ học đã đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1475, sau này giữ chức Tham chính xứ Hải Dương và trở thành một trong những thành viên của Tao đàn nhị thập bát tú do vua Lê Thánh Tông sáng lập.
Nhiều bậc danh sĩ khoa bảng đất Kinh Bắc còn là những nhân vật nổi tiếng, để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực như: Lê Văn Thịnh (xã Đông Cứu) là người đỗ đầu khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên năm 1075, mở đầu lịch sử khoa cử Việt Nam; Nguyễn Quan Quang (phường Tam Sơn) là Trạng nguyên khai khoa; Nguyễn Đăng Đạo (xã Liên Bão) là vị Lưỡng quốc Trạng nguyên duy nhất trong sử Việt làm đến chức Tể tướng; Tứ nguyên Nguyễn Đăng (xã Chi Lăng) cũng là người duy nhất trong lịch sử khoa bảng phong kiến Việt Nam đạt danh hiệu Tứ nguyên do đỗ đầu cả 4 kỳ thi. Và không thể không nhắc đến Tiến sĩ Thân Nhân Trung (phường Nếnh) với câu nói bất hủ "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" đã trở thành tư tưởng nền tảng cho chính sách trọng dụng nhân tài của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.
Di sản Nho học phong phú
Tinh thần hiếu học, trọng hiền tài và khát vọng lập thân bằng tri thức là một trong những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc văn hóa Kinh Bắc. Kẻ sĩ đất Bắc Ninh sau khi đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan và được thăng chức tương xứng với tài đức, đến khi trí sĩ lui về ở ẩn, nhiều người mở lớp, mở trường dạy học, tiếp tục đào tạo nhân tài cho quê hương, đất nước.
| Tinh thần hiếu học, trọng hiền tài và khát vọng lập thân bằng tri thức là một trong những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc văn hóa Kinh Bắc. Kẻ sĩ đất Bắc Ninh sau khi đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan và được thăng chức tương xứng với tài đức, đến khi lui về ở ẩn, nhiều người mở lớp, mở trường dạy học, tiếp tục đào tạo nhân tài cho quê hương, đất nước. |
Những người thầy tài đức mẫu mực đó là Lê Văn Thịnh, Đàm Thận Huy, Ngô Miễn Thiệu, Nguyễn Đăng Cảo, Nguyễn Đình Tuân... Qua đó, cho thấy truyền thống khoa bảng xứ Kinh Bắc không phải là thành tựu của một vài cá nhân xuất chúng mà đã trở thành nền nếp văn hóa được vun đắp qua nhiều đời bằng ý chí tự thân cùng với sự khuyến học của gia đình, dòng họ và cộng đồng làng xã.
Giới nghiên cứu phân tích rằng, sự nghiệp đào tạo nhân tài, khoa bảng ở Bắc Ninh có vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình, dòng họ, truyền thống quê hương làng xã với rất nhiều chính sách khuyến khích, cổ vũ đạo học như: Thưởng tiền, thưởng ruộng (học điền), tôn vinh, đề cao vị trí trong làng xã, khắc bia ghi nhớ, dựng văn chỉ, đình, đền, từ đường để tôn thờ các vị khoa bảng có tài năng và công trạng với quê hương, đất nước. Chính từ mạch nguồn khuyến học đó mà hệ thống di sản Nho học của Bắc Ninh cũng vô cùng phong phú và đa dạng với đủ thiết chế văn miếu hàng tỉnh, hàng huyện, hàng xã cùng hệ thống văn chỉ, nhà thờ và còn có nhiều làng tiến sĩ, nhiều danh gia vọng tộc nối đời đỗ đạt hiển vinh.
Theo ông Lê Viết Nga, nguyên Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh, ngoài Văn Miếu Bắc Ninh, trên địa bàn tỉnh từng tồn tại đầy đủ các thiết chế thờ Khổng Tử, tiên hiền, tiên triết và những người đỗ đạt ở cấp huyện, tổng, xã, tiêu biểu như Văn Miếu huyện Đông Ngàn ở phường Từ Sơn, Văn Miếu xã Trà Lâm ở phường Trí Quả. Xét theo địa giới hành chính thời Nguyễn, hầu hết các huyện ở Bắc Ninh xưa kia đều có văn miếu hoặc văn chỉ hàng huyện, hàng tổng, hàng xã. Đây là một trong những nét đặc sắc hiếm có, bởi chỉ những vùng đất có truyền thống hiếu học, khoa bảng rực rỡ mới có đủ hệ thống thiết chế phân cấp hoàn chỉnh như vậy.
Hiện nay, một số di tích Nho học tiêu biểu trên địa bàn tỉnh đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt. Đó không chỉ là những công trình kiến trúc vật chất mà còn là những địa chỉ lưu giữ đậm đặc giá trị về đạo học, đạo làm người, tinh thần trọng chữ nghĩa và ý thức phụng sự vì cộng đồng. Hệ thống văn bia, sắc phong, gia phả, hoành phi, câu đối, đồ thờ tự cùng biết bao chuyện kể, giai thoại về người học, người đỗ đạt chính là nguồn tư liệu quý để nhận diện đời sống xã hội, văn hóa và giáo dục của vùng đất Kinh Bắc qua các thời kỳ.
Vì vậy, giữ gìn và phát huy di sản Nho học không chỉ mang ý nghĩa gợi nhắc một thời vàng son khoa cử mà còn tạo môi trường giáo dục truyền thống, hun đúc tinh thần hiếu học cho các thế hệ hôm nay, tiếp tục nuôi dưỡng ý thức tự học, tự rèn, coi trọng tri thức và khát vọng cống hiến, tác động tích cực đến tiến trình phát triển quê hương, đất nước trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng.
Bắc Ninh














Ý kiến bạn đọc (0)