Ngành sư phạm đối mặt với ba bài toán khó
|
|
Muốn giáo dục phát triển, trước hết cần có đội ngũ thầy, cô giáo có chất lượng tốt. Ảnh minh hoạ. |
PGS.TS Nguyễn Thúy Hồng, Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Giám đốc Chương trình phát triển các trường sư phạm (SP) đã đưa ra ba bài toán mà ngành SP đang gặp phải và cần giải quyết sớm.
Thứ nhất, là bài toán về năng lực đào tạo lớn, vượt quá nhiều so với nhu cầu về số lượng GV cần đào tạo nhưng lại chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng của đội ngũ GV ở các trường mầm non, phổ thông (thực tế, nhiều SVSP tốt nghiệp gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm; cơ cấu GV có sự mất cân đối giữa một số môn học, bậc học, các vùng miền; số lượng GV dư dôi ở cấp THPT, THCS, nhưng còn thiếu ở GD mầm non...).
Thứ hai, là bài toán về số lượng các trường quá nhiều mà năng lực đào tạo bồi dưỡng và sự kết nối giữa các trường SP với nhau và giữa các trường SP với các đơn vị liên quan (cơ quan quản lý GD, các trường phổ thông) chưa chặt chẽ, chưa tạo thành 1 chuỗi cung ứng nguồn nhân lực GD có chất lượng (thực tế hiện nay, quy mô mạng lưới các trường SP đã quá nhiều, phân tán dàn trải trên khắp các tỉnh, thành phố, thiếu kết nối trong quy hoạch đào tạo GV ở các ngành học, bậc học; nhiều trường SP chuyển đổi sang đa ngành hoặc nâng cấp từ CĐ lên ĐH phát triển trong tình trạng thiếu ổn định....).
Thứ ba, là bài toán nâng cao năng lực cho chính các trường SP. Hiện nay, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đổi mới đào tạo; thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, giảng viên chất lượng cao; còn khoảng vênh giữa nội dung chương trình và phương thức đào tạo GV ở các cơ sở đào tạo với những yêu cầu mới và thực tiễn của nhà trường mầm non, phổ thông do chậm thay đổi so với yêu cầu đổi mới GD.
Cần có điều tra tổng thể, dự báo về số lượng đào tạo sư phạm
GS.TS Nguyễn Văn Minh, Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội cho rằng, các nước trong khu vực có số trường đào tạo SP khá ít và đòi hỏi rất cao đầu vào. Đối với nước ta, điều này ngược lại. Vì vậy, muốn GD phát triển, trước hết cần có đội ngũ thầy, cô có chất lượng tốt. Muốn giải được bài toán này, cần sắp xếp lại hệ thống SP trong cả nước; gắn việc đào tạo, bồi dưỡng định kỳ theo chu trình bắt buộc. Việc này đòi hỏi quyết tâm chính trị của tầm vĩ mô và sự đồng thuận của các đơn vị.
Cần thay đổi cơ chế tài chính trong đào tạo, tài chính tính theo chương trình đào tạo chứ không tính trên đầu SV. Đây chính là thay đổi quan trọng, hạn chế việc tăng chỉ tiêu ồ ạt của một số trường SP. Bên cạnh đó, công tác đào tạo cần gắn với nhu cầu xã hội thông qua điều tra tổng thể và dự báo về số lượng. Đây là cơ sở quan trọng để cam kết đầu ra của các trường đại học. Tìm giải pháp tài chính tối ưu thay vì miễn học phí như hiện nay. Bản thân các trường ĐHSP cần chủ động và thay đổi quyết liệt về chương trình đào tạo, mô hình đào tạo phù hợp với thông lệ quốc tế và khả thi với điều kiện Việt Nam.
Nói về đổi mới hệ thống cơ sở đào tạo GV Việt Nam hiện nay, theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục-ĐH QGHN, cho rằng, trong bối cảnh phát triển mới, một hệ thống vận hành với cơ chế cũ đã bộc lộ những bất cập, nhất là khi chúng ta đang phân cấp quản lý đào tạo GV cho các cơ sở đào tạo, tính hệ thống bị phá vỡ từ đầu vào đến quá trình đào tạo đến đầu ra, nên sớm có sự điều chỉnh. Cùng đó, cần có cơ quan điều hành, quản lý toàn bộ hệ thống cơ sở đào tạo giáo viên (CSĐTGV) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định bổ nhiệm. Trong hệ thống này, với khái niệm CSĐTGV đã bao gồm cả chức năng đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý GD nên không cần có hệ thống "con" ở các cấp địa phương.
Trên thực tế hiện nay không còn đào tạo GV trình độ trung cấp nên phải thay đổi quan niệm GV dạy bậc mầm non, tiểu học không cần trình độ cao. Trình độ tối thiểu của GV mầm non là CĐ; trình độ tối thiểu của GV tiểu học là ĐH. Các GV này được đào tạo theo mô hình đồng thời, trong đó chú trọng nghiệp vụ SP ngay từ khi nhập trường.
Ngoài ra, nên có cấu trúc hệ thống CSĐTGV theo nhóm ngành đào tạo, bởi đây là cấu trúc quan trọng, giải quyết vấn đề liên quan đến phát triển chương trình đào tạo, liên kết biên soạn giáo trình, sách giáo khoa, chia sẻ kinh nghiệm đào tạo, trao đổi học thuật, nghiên cứu khoa học của từng lĩnh vực chuyên sâu. Cấu trúc hệ thống có thể theo quan hệ địa lý, phản ánh quan hệ đặc điểm văn hóa, phát triển KT-XH. Với đặc trưng này, hệ thống CSĐTGV có thể chia theo vùng miền được Nhà nước quy định.
Theo Nhật Hồng/Dân trí
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)