Nhà thơ Hoàng Cầm và câu chuyện chuyến thăm quê
BẮC NINH - Là người con quê hương - làng Lạc Thổ (nay thuộc phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) cùng với cố thi sĩ, nhà cách mạng Hoàng Cầm song tôi chỉ biết về cuộc đời, sự nghiệp của ông thông qua những trang sách và bài thơ nổi tiếng từ hồi học phổ thông do ông sáng tác. Chỉ đến lần gặp ấy, cách đây 30 năm (1996), khi ông về thăm quê, tôi mới thực sự hiểu rõ hơn về thân thế, sự nghiệp và những thăng trầm trong nghiệp văn chương của người con Kinh Bắc ấy.
Lần ấy, cũng là lần cuối cùng nhà thơ về thăm quê hương. Cùng đi với ông có đoàn làm phim tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp thơ của ông, một số nghệ sĩ Đoàn Quan họ Bắc Ninh, anh Hoàng Kỳ - con trai cả của ông cùng một cô gái người Nhật Bản đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về văn hóa Việt Nam.
Năm ấy, nhà thơ Hoàng Cầm 74 tuổi nhưng vẫn giữ được phong thái ung dung, mẫn tiệp. Với chiếc áo sơ mi màu đỏ, quần màu sẫm là phẳng phiu, mái tóc bạc trắng, dáng người xương xương, đặc biệt, trên gương mặt ông là đôi mắt sáng, môi đỏ, nước da trắng, cử chỉ giao tiếp rất... lãng mạn, phong tình. Chúng tôi lặng nghe ông tâm sự về cuộc đời, về nghiệp thơ bằng một giọng trầm ấm nhưng hào sảng, nhất là lúc ông đọc những bài thơ “Lá diêu bông”, “Bên kia sông Đuống”... khi sâu lắng, lúc mãnh liệt. Có đoạn, ông cất tiếng ngâm bằng âm hưởng của ca trù, những giai điệu dân ca quê hương như đã ngấm vào tim ông.
![]() |
|
Nhà thơ Hoàng Cầm. |
Ông kể tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22/2/1922 tại thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh). Quê gốc của ông ở làng Lạc Thổ. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho, cụ thân sinh thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông - Bùi Tằng Việt được đặt ghép từ địa danh quê hương: “Phúc Tằng” và “Việt Yên”. Thuở nhỏ, ông học tiểu học và trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh. Đến năm 1938 ông ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho “Tân dân xã” của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.
Năm 1944, chiến tranh thế giới lần thứ hai diễn ra quyết liệt, ảnh hưởng lớn đến đất nước, quê hương... ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại đây, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh (với Vương Văn Trà, người cùng làng và sau này là Tiểu đoàn trưởng “Tiểu đoàn Thiên Đức”, Anh hùng Lực lượng vũ trang). Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch “Đông Phương”. Khi chiến tranh Đông Dương bùng nổ và lan rộng, ông theo đoàn kịch rút khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình... một thời gian rồi giải thể.
Tháng 8/1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập “Đội Tuyên truyền văn nghệ” - Đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch. Tháng 10/1954, đoàn văn công về Hà Nội, đầu năm sau do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, ông được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm này, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4/1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam và được bầu vào Ban Chấp hành.... Ông về hưu năm 1970, khi mới 48 tuổi.
| Thơ Hoàng Cầm mượt mà như một điệu dân ca, lại có sự tha thiết, quyến rũ, bồng bềnh và cũng lắm lúc hồn nhiên, dân dã của hát xoan, hát ghẹo, lại có cả sự khó cắt nghĩa rõ ràng của một tâm thức luôn hướng về những gì tưởng như là mộng ảo. Nên đọc thơ ông, thường, người ta thấy cảm nhiều hơn là dễ phân tích. |
Nhà thơ Hoàng Cầm nổi tiếng với vở kịch thơ “Hận Nam Quan”, “Kiều Loan” và các bài thơ “Lá diêu bông”, “Bên kia sông Đuống”. Ngoài bút danh Hoàng Cầm, ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi. Đầu năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học, nghệ thuật. Thời gian cuối đời ông sống tại Hà Nội, mất ngày 6/5/2010.
Bài thơ “Bên kia sông Đuống” ông sáng tác năm 1948. Sông Đuống còn gọi sông Thiên Đức, là một phân lưu của sông Hồng nối với sông Thái Bình, chia tỉnh Bắc Ninh ra làm hai phần: Nam (hữu ngạn) và Bắc (tả ngạn). Quê hương ông ở Nam phần tỉnh Bắc Ninh, ngay bên bờ sông Đuống. Khi giặc Pháp chiếm Nam phần Bắc Ninh thì Hoàng Cầm đang công tác ở Việt Bắc. Một đêm giữa tháng tư năm 1948, Hoàng Cầm trực tiếp nghe tin giặc Pháp đánh phá quê hương mình và ngay đêm ấy, dưới ngọn đèn dầu ông viết một mạch từ 12 giờ đêm đến gần sáng với “niềm căm giận và niềm thương cảm sâu sắc” như chính nhà thơ đã có lần tâm sự về bài thơ này (“bên này” là đất tự do, hướng về “bên kia” là vùng giặc chiếm đóng và dày xéo). Bài thơ lần đầu được đăng trên báo “Cứu quốc” tháng 6/1948 và nhanh chóng được phổ biến rộng ra toàn quốc. “Bên kia sông Đuống”, “Đêm liên hoan”, kịch thơ “Kiều Loan”… chính là một trong những thành công vang dội nhất của Hoàng Cầm thời chống Pháp.
Năm 1958, sau vụ “Nhân văn giai phẩm”, ba mươi năm lặng lẽ ngồi nhà như một vị thiền sư, kỳ thực, hồn thơ Hoàng Cầm đã lặng lẽ hướng về Kinh Bắc, đi tìm một mối giao cảm mà chính ông mới là người hiểu rõ. Những bài thơ hay nhất của ông ra đời, tuy không được phát hành nhưng vẫn được chuyền tay. Sau cao trào đổi mới, được khôi phục quyền công bố, đăng tải tác phẩm, liên tiếp những tập thơ “Về Kinh Bắc”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”, “99 tình khúc” của Hoàng Cầm ra mắt đã khiến độc giả sửng sốt. Một giọng thơ đầy sức quyến rũ bởi cái nội tâm sâu thẳm và chiều sâu văn hoá.
Thơ Hoàng Cầm mượt mà như một điệu dân ca, lại có sự tha thiết, quyến rũ, bồng bềnh và cũng lắm lúc hồn nhiên, dân dã của hát xoan, hát ghẹo, lại có cả sự khó cắt nghĩa rõ ràng của một tâm thức luôn hướng về những gì tưởng như là mộng ảo. Nên đọc thơ ông, thường, người ta thấy cảm nhiều hơn là dễ phân tích. “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm/ Em đừng lớn nữa Chị đừng đi/ Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”… (Cây tam cúc), “Ngày cưới Chị, Em tìm thấy lá, Chị cười xe chỉ ấm trôn kim, Chị ba con em nhìn thấy lá, Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn” (Lá diêu bông)… Để nói về sự nghiệp thơ của Hoàng Cầm, xin được dẫn trong điếu văn đọc tại tang lễ ông, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nói: Thi nhân “Mưa Thuận Thành” là nhà thơ “Độc đáo mà tự nhiên, là mình mà cũng là tất cả”.
![]() |
|
Cầu Kinh Dương Vương nối đôi bờ sông Đuống. Ảnh: Uyên Trần. |
Trong lần gặp ấy, cô gái người Nhật, khoảng 26 tuổi, đang làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ về văn hóa Việt Nam, nói tiếng Việt khá sõi. Nghe thơ Hoàng Cầm, cô rất thích thú. Nhớ khi đó, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tiến Chấn hỏi cô gái Nhật Bản: Cháu nghe thơ của Hoàng Cầm, cháu hiểu được nhiều không, cô nói: “Thơ Hoàng Cầm rất hay nhưng nhiều hình ảnh, ẩn dụ, rất tiếc cháu chỉ hiểu được gần 50%. Nhưng cháu sẽ cố gắng học thêm tiếng Việt để hiểu thêm về thơ Hoàng Cầm”...
Và hôm nay, tôi lại thơ thẩn bên bờ Nam sông Đuống. Sông Đuống trước mắt tôi trong tiết trời chớm thu, ráng chiều vàng rực, vẫn “trôi đi một dòng lấp lánh”, dòng sông soi bóng cây cầu Hồ, dập dìu xe cộ và người qua lại. Bên tai tôi văng vẳng giọng thơ ông đọc bài “Bên kia sông Đuống”. Một giọng thơ cuốn hút, lúc trầm ấm khi nói về dòng sông quê, vùng quê Kinh Bắc thơ mộng với “Xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc”, với “những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng”. Lúc đanh thép căm hờn khi nói về tội ác của giặc đang giày xéo trên quê hương: “Thân ta hoen ố vì mày, hờn ta cùng với đất này dài lâu...”. Lúc lại hào sảng, lạc quan khi nói về một ngày mai tươi sáng: “Bao giờ về bên kia sông Đuống, anh lại tìm em. Em mặc yếm thắm. Em thắt lụa hồng. Em đi trẩy hội non sông. Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”...
Hoàng Cầm - ông hoàng thơ tình Việt Nam đã trở về với dòng sông Đuống quê hương để trôi ra biển lớn, hay ông đang phiêu diêu đi tìm “Lá diêu bông” ở cõi trời nào. Nhưng với tôi, với những người yêu kính ông, yêu thơ ông, ông còn mãi với mảnh đất quê hương mình - làng Lạc Thổ của vùng quê Bắc Ninh văn hiến và cách mạng.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)