Bầu trời tự do trong Ngục trung nhật ký
Thứ 2: 10:58 ngày 21/07/2014
(BGĐT) - Sau chấn song sắt của nhà tù Tưởng Giới Thạch, bầu trời tự do bất chợt hiện lên rộng rãi trong đêm lạnh lẽo xứ người. Bài thơ thứ 118 của Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) đã được Hồ Chí Minh viết ra trong nỗi thao thức của một đêm không ngủ.
Bài "Bất miên dạ” dịch nghĩa: "Đêm không ngủ”: Năm canh thao thức không nằm/ Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồi/ Xong bài, gác bút nghỉ ngơi/ Nhòm qua cửa ngục, ngóng trời tự do (Nam Trân dịch).
Bầu trời tự do ấy, trước hết, đó là ước mong của một tù nhân yêu nước cũng là khát khao mãnh liệt của dân tộc mình, đồng bào mình. Bài thơ có ý nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều lần nếu không muốn nói nó nằm ngoài câu chuyện không ngủ được trong một đêm tù. Không gian thơ cũng vậy, nó vượt qua những bức tường và chấn song sắt đen đúa của nhà tù để mở ra bao la với hình tượng bầu trời tự do. Từ ô cửa ngục, vút bay lên một ánh nhìn bát ngát, chạm tới mênh mang thiên hà. Lúc này, tự do chưa thành hiện thực, cho mình và dân tộc mình nhưng đã là vầng sáng vẫy gọi tha thiết những số kiếp lầm than, bị áp bức vươn tới.
Đọc lại Nhật ký trong tù, tôi thấy tinh thần tự do xuyên suốt trong tập thơ của Bác. Gông cùm, song sắt không trói buộc, khóa cột lại được tự do của Người. Đây là một tuyên ngôn về tự do được viết bằng thơ của Hồ Chí Minh: Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần cần phải cao.
Tinh thần tự do vừa là khát vọng, vừa là nội lực trong con người Hồ Chí Minh. Đó là khí phách, tâm hồn của một người luôn làm chủ mình trong mọi tình thế. Rất nhiều bài thơ ở Nhật ký trong tù nói lên được điều này một cách nghệ thuật. Hồ Chí Minh quên mình để hòa đồng vào những cái rộng lớn hơn như thiên nhiên, đất nước và Nhân dân. Nhân dân nên hiểu ở nghĩa rộng lớn hơn là đồng bào mình và tất cả những người lao động bị áp bức, đói khổ, đày ải trên thế gian này.
Qua thơ, Hồ Chí Minh có những cảm thông, chia sẻ rất nhân ái với những người cùng khổ, những số phận hẩm hiu. Đấy là những tiếng kêu xót xa, thương cảm của một trái tim nhân hậu với những kiếp lầm than trong cõi người khốn khó, đầy rẫy bất công, áp bức. Với người làm đường, Bác viết: Dải nắng dầm mưa chẳng nghỉ ngơi/ Phu đường vất vả lắm ai ơi/ Ngựa xe hành khách thường qua lại/ Biết cảm ơn anh có mấy người.
Khí thơ trong Nhật ký trong tù thấm sâu tinh thần tự do cao cả. Ung dung, tự tại chính đó là biểu hiện của tự do. Tự do, làm cho Người bay đến với thiên nhiên, hòa vào nước non, trăng sao, cây cỏ muôn trùng. Tình yêu thiên nhiên trong thơ Bác chính là thông điệp của tự do. Hồ Chí Minh tìm thấy trong thiên nhiên tiếng hát tự do; sông núi trăng sao hoa cỏ là bạn bầu tri âm và thật diệu kỳ những trói buộc, phiền toái đã bị vô hiệu hết. Bởi thế, sợi dây gai trói tù nhân thành Rồng uốn quanh chân với tay và ghẻ lở mọc đầy thân thì trông như hoa gấm…
Tôi muốn dừng lại lâu hơn một chút ở bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) trong tập "Nhật ký trong tù”: Ngục trung vô tửu diệc vô hoa/ Đối thử lương tiêu nại nhược hà?/ Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt/ Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Bài thơ mang vẻ đẹp trong sáng tinh khiết vô cùng. Trong tù không rượu cũng không hoa, đấy là hoàn cảnh thực. Mà xưa nay, thì rượu và hoa vẫn là những thứ tạo men, gây hứng cho thi nhân làm thơ vào những đêm trăng đẹp. Bởi thế, nhà thơ Hồ Chí Minh mới đặt một câu hỏi: Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Cứ tưởng rằng, cứ ngỡ rằng chẳng có gì cả.
Người trong lao tù tối tăm, trăng trên bầu trời vằng vặc cứ thế vời vợi xa nhau. Không! Tiếng hát tự do đã vút bay lên, thế mới có cảnh tượng rất đẹp này: Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng và Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ. Người với trăng - trăng với người bất chấp hoàn cảnh đã tìm về nhau, xích lại gần nhau trong mối đồng cảm tri âm không tả hết. Người hướng về trăng, trăng ngắm người - một nhà thơ, đó là mối quan hệ bầu bạn đầy thấu hiểu, thông tỏ. Không còn một rào cản, ngăn cách nào nữa giữa hai đối tượng. Tâm hồn nhà thơ đã được giải phóng hoàn toàn, tự do tỏa ánh sáng dịu dàng cả trong và ngoài lao ngục.
Hơn bảy mươi năm rồi kể từ khi Hồ Chí Minh viết Ngục trung nhật ký trong lao tù của Tưởng Giới Thạch (từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến 10 tháng 9 năm 1943). Hơn 130 bài thơ viết bằng chữ Hán của Người trong cuốn sổ nhỏ màu xanh bìa có vẻ đôi tay bị xiềng đã trở thành tác phẩm văn học nổi tiếng và hiện vật lịch sử quý giá của đất nước Việt Nam.
Không ai, không gì có thể phủ nhận được giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Nhật ký trong tù. Tác phẩm ấy cùng nhiều bài thơ khác của Người đã minh chứng Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi vẫn tin rằng, không những bây giờ mà rất lâu sau, những bài thơ trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh vẫn bay trên đôi cánh tự do.
Nguyễn Hữu Quý
Chủ đề:
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)