Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà: Luật Đất đai sửa đổi tạo cơ sở pháp lý khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội
BẮC NINH - Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 29/10, thảo luận tại hội trường về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), đại biểu Đỗ Thị Việt Hà khẳng định việc sửa đổi Luật là cần thiết, tạo cơ sở pháp lý tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đại biểu, việc sửa đổi Luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, trực tiếp là Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, ổn định.
![]() |
|
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà phát biểu thảo luận sáng 29/10. |
Qua nghiên cứu hồ sơ và dự thảo Luật sau tiếp thu, chỉnh lý, đại biểu đóng góp ý kiến vào 5 nhóm vấn đề:
Thứ nhất, về quan điểm chung trong sửa đổi Luật
Đại biểu nhấn mạnh Luật Đất đai có vị trí, vai trò quan trọng, tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ bất cứ quy định nào cũng cần được cân nhắc thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng, bám sát chủ trương của Đảng; đánh giá đầy đủ tác động kinh tế, xã hội của chính sách mới và giải trình rõ lý do sửa đổi từng điều, khoản.
Nhiều quy định của Luật điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Đại biểu đề nghị rà soát, xác định đầy đủ các quy phạm pháp luật công để thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, phòng ngừa nguy cơ lạm dụng, lợi dụng quyền lực.
Một số nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất nhưng dự thảo giao Chính phủ quy định cần được nghiên cứu kỹ, như: Các trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường; hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; giấy tờ về quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận.
Thứ hai, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật
Đại biểu ghi nhận cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và điều ước quốc tế. Về cơ bản, dự thảo phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song vẫn còn nội dung chưa thống nhất với luật hiện hành và các dự thảo luật trình tại kỳ họp.
Đại biểu dẫn chứng khoản 4 Điều 21 chưa phù hợp với khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 84 chưa thống nhất với khoản 8 Điều 19 Luật Phát triển đô thị; quy định về công trình dầu khí để thu hồi đất tại điểm e khoản 2 Điều 34 chưa phù hợp với Luật Dầu khí.
Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến công chứng giao dịch, quyền của người nước ngoài, điều kiện thực hiện quyền của người sử dụng đất, cải tạo và xây dựng lại nhà chung cư chưa thống nhất với dự thảo Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản. Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát từng quy định, bảo đảm đồng bộ với pháp luật hiện hành và các dự án luật đang trình Quốc hội.
Thứ ba, về các giao dịch để thực hiện quyền của người sử dụng đất phải công chứng
Khoản 4 Điều 21 dự thảo giao Chính phủ quy định loại hợp đồng thực hiện quyền của người sử dụng đất phải công chứng, chứng thực, phù hợp với lộ trình chuyển đổi số và kết nối liên thông dữ liệu quản lý đất đai.
Đại biểu cho rằng nội dung giải trình để giữ quy định này chưa đủ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn; đề nghị nghiên cứu thấu đáo, quy định ngay trong Luật một số giao dịch phải công chứng.
Theo đại biểu, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là những giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao. Công chứng giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, phòng ngừa tranh chấp, giảm chi phí xã hội, chi phí tư pháp; đồng thời góp phần phát hiện giao dịch đáng ngờ liên quan đến rửa tiền và các hoạt động tài trợ bị cấm.
Đại biểu phân tích việc giao Chính phủ quy định chưa phù hợp với Bộ luật Dân sự và Luật Công chứng, bởi theo các quy định này, giao dịch bắt buộc công chứng phải được xác định trong luật. Cách quy định cũng chưa đồng bộ với dự thảo Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Nhà và đất trong hầu hết trường hợp là khối tài sản thống nhất, vì vậy hình thức hợp đồng cần được quy định tương đồng.
Đại biểu nhấn mạnh công chứng là một cấu phần tích cực của chuyển đổi số. Cơ sở dữ liệu đất đai cung cấp thông tin về người sử dụng, chủ sở hữu và tình trạng pháp lý của tài sản, nhưng không xác định được đầy đủ năng lực hành vi, sự tự nguyện của người ký; khả năng bị lừa dối, ép buộc; tính hợp pháp của thỏa thuận và mức độ hiểu biết của các bên về hậu quả pháp lý.
Kết nối dữ liệu đất đai, công chứng và dữ liệu chuyên ngành sẽ giúp công chứng viên khai thác thông tin đã được xác thực, giảm giấy tờ, thời gian, chi phí cho người dân, đồng thời bảo đảm an toàn giao dịch. Giá trị pháp lý của dữ liệu và hoạt động công chứng bổ trợ, không thay thế nhau.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy nhiều quốc gia có hệ thống dữ liệu hoàn thiện vẫn duy trì cơ chế công chứng hoặc sự tham gia của luật sư, tổ chức đại diện pháp lý chuyên nghiệp để bảo đảm an toàn giao dịch bất động sản.
Thứ tư, về các hình thức tiếp cận đất đai của người sử dụng đất (các điều 55, 56 và 57)
Đối với các điều 55, 56 và 57, đại biểu đề nghị quy định rõ hơn trường hợp, điều kiện, tiêu chí giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu và không qua đấu giá, đấu thầu.
Cụ thể, điểm k khoản 3 Điều 55 quy định dự án nhà ở cho thuê thuộc trường hợp giao đất, cho thuê đất không đấu giá, không đấu thầu. Trong khi đó, điểm a khoản 1 Điều 57 quy định dự án khu đô thị, khu dân cư nông thôn có quy mô lớn, tính chất phức tạp hoặc vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương thuộc trường hợp đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Từ đó, đại biểu đặt vấn đề: Nếu dự án nhà ở cho thuê nằm trong khu đô thị, khu dân cư thuộc các trường hợp trên thì áp dụng hình thức nào? Nội dung này cần được rà soát, quy định rõ để thống nhất thực hiện.
Thứ năm, về sử dụng đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội thông qua nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất (Điều 58)
Dự thảo đưa ra hai phương án: Luật hóa Nghị quyết số 171/2024/QH15, mở rộng điều kiện thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất thực hiện dự án nhà ở thương mại; hoặc giữ quy định hiện hành, chỉ được thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất ở, hoặc đang có quyền sử dụng đất ở, đất ở và đất khác.
Đại biểu lưu ý hồ sơ chưa có báo cáo tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 171 để làm cơ sở xác đáng cho việc luật hóa. Báo cáo giải trình vẫn giữ hai phương án, nhưng dự thảo ngày 28/10 thể hiện theo pháp luật hiện hành, trong khi khoản 4 Điều 107 quy định tiếp tục thực hiện Nghị quyết.
Đại biểu cơ quan chủ trì soạn thảo có sự thống nhất trong phương án trình Quốc hội để các đại biểu Quốc hội có cơ sở cho ý kiến. Chính phủ tiếp tục đánh giá kỹ lưỡng tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết 171, trường hợp quy định đó đã đủ chín, đủ rõ, có đầy đủ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn thì việc luật hóa tại luật này là hoàn toàn phù hợp. Trường hợp chưa rõ như trên thì nên tiếp tục kế thừa quy định như Luật hiện hành và tiếp tục thực hiện Nghị quyết đến khi có sơ kết, tổng kết sẽ luật hóa nếu đủ cơ sở.
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)