Đại tướng Phạm Văn Trà chia sẻ những câu chuyện về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Trong cuộc trò chuyện cùng phóng viên Dân trí, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã dành nhiều thời gian chia sẻ những câu chuyện của ông và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (ông Sáu Dân) và ông Phạm Văn Trà (ông Ba Trà) từng có nhiều năm gắn bó, sống chết cùng đồng bào miền Tây trong kháng chiến chống Mỹ. Sau này, khi đã rời chính trường khá lâu, ông Sáu Dân tìm đến nhà riêng của ông Ba Trà ở Bắc Ninh, nói về tâm nguyện bấy lâu của mình…
![]() |
|
Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. |
Một thời gian sau ông Sáu Dân rời xa trần thế và ông Ba Trà tiếp tục theo đuổi tâm nguyện được gửi gắm.
Anh Kiệt chọn nơi ác liệt nhất
Thưa Đại tướng, nhiều đồng đội, nhiều người dân miền Tây gọi ông là “Ba Trà”. Trong lần ông bị phục kích, truy bắt trước giải phóng miền Nam ít ngày, đối phương cũng hò hét “bắt sống Ba Trà”. Ông có thể chia sẻ thêm về tên gọi này?
- Lúc ấy ở miền Tây, chúng tôi đánh trận có chút tiếng tăm, những người quen thân mới hỏi tôi “mày là thứ mấy”, tôi nói tôi thứ ba, từ đó những người quen và người dân trong đó gọi tôi là “Ba Trà”.
Người dân miền Tây coi tôi như người nhà, thương tôi lắm, đi đâu cũng cho gạo ăn. Sau này, khi đã trở về Bắc, năm nào tôi cũng vào đó thăm lại bà con.
Cái tên “Ba Trà” rất gần gũi và thoạt nghe nhiều người cứ nghĩ tôi là dân gốc Nam Bộ. Tôi lấy làm tự hào về điều này bởi mình như là người con của hai vùng quê, Kinh Bắc - Bắc Ninh và Tây Nam Bộ.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và ông đã có một thời sống chết cùng đồng bào miền Tây trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Kỷ niệm nào với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thời kỳ này khiến ông nhớ nhất?
- Có thể nói, lúc khó khăn nhất, anh Võ Văn Kiệt đã về với chúng tôi. Như tôi từng nói, trận Mậu Thân phía ta hy sinh rất nhiều. Trung đoàn U Minh 1 - Quân khu 9 của chúng tôi khi đánh vào Cần Thơ có 3.200 người, sau đó chỉ còn 1.200 người. Tiểu đoàn tôi khi vào Cần Thơ là 1.100 chiến sĩ, khi ra chỉ còn 200 người.
Lúc quay ra chúng tôi khó khăn lắm, gạo không có ăn, thuốc không có cho thương binh. Nhưng chính lúc đó, người dân đã bao bọc, cưu mang, cho chúng tôi gạo ăn, cho tiền mua thuốc chữa…, giúp Trung đoàn vượt qua khó khăn.
Chúng tôi về vùng giải phóng cũ, địch đã chiếm lại, đóng đồn khắp nơi, bộ đội phải phân tán, sống chung với người dân, đánh du kích để tồn tại, chờ sự chi viện của trên.
Anh Võ Văn Kiệt đã đến với chúng tôi trong hoàn cảnh như thế. Lúc đó, Khu ủy mời anh Kiệt xuống Năm Căn, Cà Mau - đó là nơi địch không vào càn được, chỉ đánh bom, còn rừng U Minh thượng, U Minh hạ, chúng càn hết.
Nhưng anh Kiệt không về Năm Căn, anh lên hẳn chỗ khó khăn nhất, ác liệt nhất để gây dựng phong trào. Anh Lê Đức Anh cũng như vậy.
Anh Võ Văn Kiệt ở cách đồn địch khoảng 400m, anh Lê Đức Anh có lúc ở sát hàng rào thứ nhất của đồn địch. Đêm đầu tiên lên với chúng tôi, các anh đã ra gặp bà con.
Anh Kiệt nói, lúc khó khăn nhất, ác liệt nhất phải luôn giữ niềm tin, tin vào Bác Hồ, tin vào con đường Bác đã chọn. Anh nói, mất tiền còn kinh nghiệm, mất bạn là mất niềm vui, mất niềm tin là mất tất cả.
Đó là điều sâu sắc nhất với chúng tôi. Người lãnh đạo sâu sát, sống chết với anh em như vậy thì mình rất tin tưởng.
Các anh đã củng cố được niềm tin của chúng tôi lúc khó khăn nhất. Trung ương sau đó cũng tăng cường cho chúng tôi 3 tiểu đoàn từ Bắc vào. Từ đó, phong trào dần dần tốt lên, dần dần mở rộng, khôi phục lại vùng giải phóng.
![]() |
|
Chùa Hộ Quốc ở Phú Quốc. |
Sau hòa bình, trong quá trình công tác, nhất là giai đoạn ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, hẳn giữa hai ông cũng có nhiều câu chuyện?
- Tôi nhớ, sau này có lần anh Sáu Dân tìm đến tôi và hỏi “tao nghe mày có nhà rồi, mày xin được nhà ở Quân khu 9 phải không”. Tôi bảo không, tôi không có. Khi anh truy thêm, tôi nói anh cứ đến Quân khu hỏi.
Sau đó, anh ấy có dịp đến Quân khu 9 và nắm được chuyện Quân khu 9 phân nhà, nhưng tôi từ chối nhận. Sau này, tôi cũng được phân nhà hơn 300m2 ở Hà Nội, nhưng tôi không lấy.
6 cái nhất của miền Tây và tâm nguyện từ anh Sáu Dân
Được biết, sau khi rời chính trường nhiều năm, ông Võ Văn Kiệt đã tìm đến nhà riêng của ông ở Bắc Ninh và tại đây, ông Kiệt đã chia sẻ nỗi trăn trở nhiều năm của mình. Ông Võ Văn Kiệt rời xa trần thế sau đó vài tháng, để lại tâm nguyện còn dang dở cho ông và nhiều đồng chí, đồng đội?
- Mùng 8/3/2008, anh Sáu Dân tìm đến nhà tôi ở Phù Lãng, Bắc Ninh. Anh ấy nói suồng sã “tao với mày quen nhau lâu rồi, tao thấy việc này chỉ có mày làm được”.
Rồi anh chia sẻ, miền Tây có 6 cái nhất - vui cũng có mà buồn cũng có. Đây là nơi xuất khẩu lúa gạo nhiều nhất nước, nơi xuất khẩu hoa quả nhiều nhất nước, xuất khẩu thủy hải sản nhiều nhất nước.
Đó là ba cái nhất vui, còn ba cái nhất buồn khiến anh tâm tư. Đời sống của người miền Tây nghèo nhất mà khổ nhất là những người đi kháng chiến, những người không có ruộng. Cũng vì nghèo, con gái miền Tây đi lấy chồng nước ngoài nhiều nhất. Cuối cùng, miền Tây còn nghèo nhất về văn hóa tâm linh người Việt…
Từ đó, anh nói về tâm nguyện lan tỏa văn hóa tâm linh thuần Việt xuống miền Tây. Theo anh, chùa chiền, các cơ sở thờ tự ở miền Tây từ màu sắc tới kiến trúc lai tạp, thiếu hẳn bản sắc văn hóa Việt.
“Ta buồn nhất là Quang Trung đánh cho quân Xiêm khiếp sợ ở Rạch Gầm Xoài Mút mà đến nay không có đền thờ vị vua này ở đó”, anh chia sẻ tiếp.
Rồi anh nói nhà Trần rất vĩ đại, ngang với thời đại ngày nay, ba lần đánh thắng quân Mông Nguyên. Khi ấy, Đại Việt chỉ 10 triệu dân mà thắng quân Mông Nguyên, còn nhà Tống hàng trăm triệu dân vẫn thua quân Mông.
“Cho nên ta muốn đưa được văn hóa tâm linh người Việt vào sâu trong miền Tây Nam Bộ, làm đền thờ Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Mấy tỉnh làm một đền thờ, còn chùa thì mỗi tỉnh một ngôi”, anh Sáu Dân bày tỏ.
Anh Sáu Dân bàn chuyện này với tôi có lẽ vì anh biết được tôi sau khi rời việc quân đã tham gia phục dựng, tôn tạo chùa chiền, làm đền thờ ở một số địa phương.
Hơn ba tháng, sau ngày anh Sáu Dân lên thăm tôi, khi anh và tôi đang cùng thực hiện mong mỏi của anh thì ngày 18/8/2008, anh đột ngột về miền cực lạc…
![]() |
|
Chùa Hộ Quốc ở Phú Quốc, một trong những ngôi chùa Đại tướng Phạm Văn Trà tham gia vận động xây dựng tại miền Tây. |
Những năm sau đó ông đã thực hiện tâm nguyện của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thế nào?
- Thực hiện mong muốn của anh Sáu Dân, tháng 10/2011, chúng tôi bắt đầu công trình xây chùa ở Phú Quốc. Công trình được khánh thành vào tháng 12/2012 với tên gọi Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc. Tháng 5/2014, chúng ta khánh thành chùa ở Cần Thơ… Đến giờ, chúng tôi đã xây hơn mười ngôi chùa, đền thờ liệt sĩ ở miền Tây.
Tôi tin chúng tôi đã không phụ lòng tin của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và ở thế giới bên kia chắc rằng anh hài lòng với những gì mà anh em, đồng chí, đồng đội thực thi tâm nguyện của mình.
Bắt sống đối phương là… thả
Đền thờ các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 1 - U Minh tại nơi ông và ông Võ Văn Kiệt từng một thời sát cánh, được khánh thành năm 2024, đã giúp ông thực hiện được nguyện vọng luôn canh cánh bên lòng như lời ông từng nói. Thời gian tới ông sẽ tiếp tục theo đuổi tâm nguyện xây dựng đền thờ anh hùng liệt sĩ?
- Nặng lòng với ngót sáu nghìn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 - U Minh chiến đấu hy sinh cho độc lập, chúng tôi đã xây dựng Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 1 - U Minh, công trình được hoàn thành vào tháng 4/2024.
Tôi nghĩ thế này, nghĩa trang có thể chỉ được trăm năm là hết. Thời nhà Lý đánh quân Tống, nhà Trần đánh quân Nguyên Mông, nhà Lê đánh quân Minh, phía ta hy sinh rất nhiều, nhưng đến nay nghĩa trang không còn, trong khi đền thờ còn mãi.
Không chỉ thời đại Hồ Chí Minh, thời đại nào cũng có đền thờ. Đền thờ không chỉ cho thế hệ này mà cả thế hệ sau. Tất cả các liệt sĩ hy sinh ở vùng đó trong thời đại Hồ Chí Minh mãi mãi được ghi nhớ và hàng năm, hàng tháng có người đến thắp hương cho liệt sĩ sẽ rất có ý nghĩa.
Tôi vẫn đang vận động làm đền thờ ở những quân khu chưa có và có thể làm ở mỗi tỉnh nữa.
Bên cạnh những ngôi chùa, đền thờ ở miền Tây, Đại tướng cũng tham gia vận động xây dựng đền thờ Lý Thường Kiệt ở Bắc Ninh. Được biết, cách đền thờ Lý Thường Kiệt không xa, tại ngôi chùa bên kia sông Như Nguyệt ở cánh đồng Xác có ban thờ những người lính của ta hy sinh và cả ban thờ quân Tống chết trận. Ông chia sẻ gì về điều này?
![]() |
|
Chùa Hộ Quốc nhìn từ xa. |
- Cánh đồng Xác là di tích lịch sử sau trận Như Nguyệt năm 1077. Cánh đồng này ở xã Mai Đình, Hiệp Hoà, Bắc Giang trước đây, nay là xã Xuân Cẩm, Bắc Ninh. Trung Quốc từng sang làm đền thờ những người chết trận ở đây, nhưng sau này giặc Pháp đốt phá hết.
Sau 1954, chúng ta làm chùa ở đây, có ban thờ những người lính của ta hy sinh và ban thờ quân Tống chết trận… Tôi nghĩ, dù sao mình cũng cho người ta thấy mình tôn trọng tất cả. Mình có tình nghĩa. Những người chết trận suy cho cùng cũng do bối cảnh chung.
Mới đây, khi làm chùa mới (gần ngôi chùa cũ - pv), chúng ta đã xây đền thờ sát chùa và chuyển nơi thờ những người lính của ta hy sinh sang nơi này.
Ông vừa nói về sự bao dung và cả sự tôn trọng với đối phương. Từng nhiều năm làm chỉ huy, cầm quân ở miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, hẳn ông có nhiều “duyên nợ” với những người bên kia chiến tuyến. Vậy sau ngày hoà bình, ông có dịp nào gặp cựu binh phía bên kia?
- Có chứ, tôi gặp nhiều. Cách đây 3 năm, tôi gặp một số cựu binh phía bên kia từ Mỹ về. Có người mời tôi qua nhà rồi nói với con cháu: “Nếu ông này bắn thì ta chết rồi. Hồi đó ông bắt được, cho ta ăn rồi thả, bây giờ mới có các con, các cháu”.
Người này hơn tôi 3 tuổi, khi bị bắt là tiểu đoàn trưởng, đeo lon Đại úy. Ông ấy vừa mất năm ngoái ở tuổi 93.
Ngày ấy, chúng tôi bắt sống đối phương là thả. Xung quanh chúng tôi đồn địch giăng khắp, bắt rồi không đưa đi đâu được, bắn thì tội nghiệp. Giữ lại không được, địch tấn công, mình lại phải thả nên thả trước hay hơn…
Xin cảm ơn Đại tướng về cuộc trò chuyện!
Bắc Ninh


















Ý kiến bạn đọc (0)