Việt Nam đặt mục tiêu cân bằng tỷ số giới tính khi sinh vào năm 2035
Bộ Y tế đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về khoảng 106 bé trai trên 100 bé gái vào năm 2035, ngang mức cân bằng tự nhiên, xóa định kiến "trọng nam khinh nữ".
Mục tiêu này nằm trong Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, được Bộ Y tế lấy ý kiến đến ngày 23/8. Đề án chia lộ trình làm hai chặng. Chặng 2026-2030, tỷ số cần giảm xuống dưới 109 bé trai trên 100 bé gái, tương đương mỗi năm giảm 0,2 điểm. Chặng 2031-2035, tốc độ phải tăng gấp đôi để về mốc 106. Tính chung 10 năm, Việt Nam cần kéo tỷ số xuống 4 điểm, bình quân 0,4 điểm mỗi năm.
![]() |
|
Học sinh Trường Tiểu học Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh. |
Năm 2025, cứ 100 bé gái chào đời thì có 110 bé trai. Con số này giảm 2,2 điểm so với năm 2016 (112,2), tốc độ cải thiện nhanh hơn trong 5 năm gần đây. Dù vậy, mức 110 vẫn vượt xa ngưỡng tự nhiên 105-106.
Suốt nhiều năm, tỷ số này luôn trên 111, đỉnh điểm năm 2018 chạm 114,8. Bộ Y tế cảnh báo nếu buông lỏng can thiệp, tỷ số có thể bật tăng trở lại, nhất là ở những địa phương và nhóm dân cư còn nặng tâm lý thích con trai.
![]() |
Hệ quả của tình trạng này kéo dài nhiều thập kỷ, ngay cả khi tỷ số đã về mức tự nhiên. Số bé trai dư thừa hôm nay sẽ trở thành nhóm nam giới thừa ở tuổi trưởng thành. Khi nam nhiều hơn nữ, sức ép hôn nhân tăng lên, một bộ phận nam giới phải kết hôn muộn hoặc không tìm được bạn đời.
Mất cân bằng còn xáo trộn cơ cấu dân số, thị trường lao động và bình đẳng giới, làm tăng nguy cơ buôn bán phụ nữ, bạo lực giới cùng các vấn đề an ninh, trật tự. Vòng xoáy này còn kéo mức sinh đi xuống, khi ít phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đồng nghĩa ít bé gái ra đời, tác động trực tiếp đến quy mô và cơ cấu dân số tương lai.
Bộ Y tế đánh giá mục tiêu 2035 khả thi nếu Việt Nam duy trì can thiệp đủ mạnh và liên tục. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một chu kỳ biến động tỷ số giới tính khi sinh thường kéo dài khoảng 30 năm, trải qua các pha khởi phát, tăng nhanh, đạt đỉnh, chững lại rồi trở về bình thường. Việt Nam bắt đầu mất cân bằng từ khoảng năm 2004 và hiện ở pha chững lại.
Kết hợp "cứng" và "mềm"
Theo Bộ Y tế, tình trạng này bắt nguồn từ nhiều yếu tố đan xen như tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp lực phải có con trai trong các gia đình ít con, cùng việc lạm dụng công nghệ siêu âm, xét nghiệm để chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi.
Vì vậy, đề án chọn cách tiếp cận liên ngành, ghép biện pháp "cứng" về pháp luật với biện pháp "mềm" nhằm thay đổi chuẩn mực xã hội - hướng đi mà Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ từng áp dụng.
Ở nhóm "cứng", cơ quan chức năng tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, đồng thời nâng năng lực quản lý cấp địa phương. Hàn Quốc từng đưa tỷ số về mức bình thường nhờ chế tài nghiêm khắc với hành vi tiết lộ giới tính thai nhi. Song cấm đoán đơn thuần chưa đủ, khi gốc rễ vấn đề nằm ở định kiến giới và nỗi lo của các gia đình sinh con một bề là gái.
Nhóm "mềm" gồm hỗ trợ tài chính, an sinh xã hội, truyền thông và giáo dục bình đẳng giới. Kinh nghiệm một số nước châu Á cho thấy hệ thống an sinh tốt cho người cao tuổi làm nguội tâm lý phải có con trai để nương tựa lúc về già. Bảo đảm quyền thừa kế, quyền sở hữu tài sản cùng cơ hội học hành, việc làm cho phụ nữ cũng giảm sự lệ thuộc vào con trai.
Riêng khoản hỗ trợ tài chính cho gia đình sinh con gái, Bộ Y tế lưu ý phải thiết kế thận trọng để tránh phát đi thông điệp rằng con gái cần được "bù đắp". Chính sách nên gắn với giá trị của trẻ em gái và bình đẳng giới, cân nhắc mở rộng cho mọi bé gái, bất kể thứ tự sinh hay gia đình đã có con trai hay chưa.
Thay vì làm dàn trải, Việt Nam sẽ dùng dữ liệu dân số khoanh vùng các địa bàn, nhóm dân cư nguy cơ cao để thiết kế chính sách riêng.
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)