Xây dựng hệ sinh thái công nghệ giáo dục
Trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng học tập trực tuyến tạo ra những cơ hội tuyệt vời cho việc dạy và học, đồng thời đặt ra không ít thách thức mà không một chủ thể riêng lẻ nào có thể giải quyết.
Xây dựng một hệ sinh thái công nghệ giáo dục bảo đảm liêm chính học thuật và năng lực kiểm soát, đề cao nguyên tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình là yêu cầu của thời đại mới, giúp công tác quản trị giáo dục đạt hiệu quả tích cực.
![]() |
|
Sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội thực hành nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm. |
Minh bạch là thước đo
Hệ sinh thái công nghệ giáo dục được hiểu là mạng lưới liên kết giữa các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, giáo viên, người học, gia đình và các tổ chức xã hội. Trong hệ sinh thái đó, công nghệ đóng vai trò kết nối nguồn lực, hỗ trợ quản trị, đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng học tập. Một hệ sinh thái công nghệ giáo dục có trách nhiệm không chỉ được đánh giá bằng số lượng thiết bị thông minh, các nền tảng trực tuyến được ứng dụng hay việc phát triển AI, mà quan trọng là phải bảo đảm quyền lợi của người học, tôn trọng các nguyên tắc đạo đức và kiến tạo giá trị giáo dục thực chất, có kiểm soát và mang tính nhân văn.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh, Trường đại học Luật (Đại học quốc gia Hà Nội), trong giáo dục, nhất là giáo dục đại học hiện nay đang có sự chuyển dịch về triết lý giáo dục và mô hình quản trị thuật toán. AI không còn là công cụ thụ động như máy tính hay kho dữ liệu tĩnh mà bắt đầu đảm nhiệm vai trò của một “đối tác nhận thức”, định hình trực tiếp đến hệ giá trị và tư duy của người học. Mục tiêu đào tạo đang dịch chuyển từ việc tìm kiếm giải pháp sang đặt vấn đề và thẩm định giá trị. Theo đó, sinh viên cần có khả năng phân tích bối cảnh, đánh giá tính đúng đắn của dữ liệu AI cung cấp và đưa ra các quyết định dựa trên hệ giá trị nhân văn và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Đây là sự chuyển dịch từ giáo dục kết quả sang giáo dục quá trình.
Thế giới đã ghi nhận sự ra đời của hơn 200 bộ quy tắc và khuyến nghị về đạo đức AI, tuy nhiên vẫn có sự bất tương xứng giữa việc thông qua các bộ luật, quy tắc đạo đức AI và việc áp dụng chúng vào thực tiễn triển khai thuật toán. Riêng trong giáo dục, có những dự án công nghệ giáo dục thành công về triển khai kỹ thuật nhưng hiệu quả giáo dục lại không cao. Việt Nam hiện có đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc quản trị hệ thống công nghệ. Đó là, Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, Thông tư 05/2006/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 10/3/2026 quy định Khung đạo đức AI quốc gia.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành Thông tư 49/2006/BGDĐT ngày 20/6/2026, có hiệu lực từ ngày 15/8/2026, quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, AI được ứng dụng trong đào tạo, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản trị và dịch vụ hỗ trợ người học; lấy người học làm trung tâm, phục vụ thực hiện chương trình đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định.
Theo Tiến sĩ Trần Kim Bá, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, AI càng được ứng dụng mạnh mẽ, càng cần phải đề cao sự minh bạch, tính công bằng và nhân văn trong quá trình học tập, nghiên cứu. Có như vậy mới kiến tạo một nền giáo dục thông minh nhưng không vô cảm, hiện đại mà không đánh mất bản sắc, đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm yếu tố con người là cốt lõi.
Song hành và làm chủ công nghệ
Trong giáo dục số, dữ liệu liên tục được tạo ra từ nhiều hoạt động dạy, học và nghiên cứu, trao đổi. Đây là tài nguyên quan trọng để cá nhân hóa việc học tập của mỗi người, nhưng thách thức đặt ra là cơ chế bảo mật dữ liệu và quyền riêng tư. Một khó khăn hiện nay là năng lực số của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, khoảng cách số giữa các vùng miền vẫn đang cần được xóa bỏ. Hạ tầng công nghệ, yếu tố tiên quyết để xây dựng một hệ sinh thái công nghệ giáo dục thông minh vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ. Thực tế, ngay cả ở các đô thị lớn vẫn tồn tại tình trạng mỗi trường học sử dụng một nền tảng, một hệ thống quản lý với phương thức lưu trữ dữ liệu khác nhau. Điều này dẫn tới khó khăn trong kết nối và chia sẻ học liệu. Báo cáo Giám sát Giáo dục toàn cầu của UNESCO ghi nhận, thiếu thiết bị và hạ tầng số là rào cản đáng kể đối với việc ứng dụng công nghệ của giáo viên.
Tiến sĩ Trần Kim Bá cho rằng, muốn xây dựng một hệ sinh thái công nghệ giáo dục, cần tập trung đầu tư vào hạ tầng công nghệ, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên trên nguyên tắc quản trị đa bên, trong đó mỗi chủ thể có những vai trò cụ thể. Nhà nước ban hành các thể chế, chính sách về bảo mật dữ liệu, đề ra các tiêu chuẩn và cơ chế giám sát bảo vệ quyền lợi của người học. Nhà trường cần phát huy vai trò quản trị công nghệ, triển khai và đánh giá hiệu quả việc ứng dụng công nghệ. Đội ngũ giáo viên ứng dụng công nghệ một cách có trách nhiệm trong giảng dạy.
Tiến sĩ Hồ Đức Thắng, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, AI đang phát triển với tốc độ mạnh mẽ, có năng lực tăng gấp đôi sau mỗi 4-6 tháng. Con người bắt buộc phải học cách tồn tại song hành và làm chủ công nghệ. Chỉ khi con người có nền tảng tri thức vững chắc thì việc sử dụng AI mới mang lại hiệu quả thật sự.
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)