Khai thác lợi thế mặt nước nuôi cá lồng thâm canh
BẮC NINH - Khai thác lợi thế dòng chảy sâu, mặt thoáng rộng từ hệ thống sông Đuống, sông Thái Bình, từ hơn 10 năm trở lại đây, nhiều hộ dân hai bên bờ sông mạnh dạn đầu tư xây dựng các mô hình nuôi cá lồng trên sông. Nhờ vậy, bà con nâng cao thu nhập, góp phần tăng sản lượng thủy sản, giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh.
Làm giàu từ nuôi cá lồng
Năm 2016, gia đình ông Đỗ Đăng Thức, tổ dân phố Thụy Mão, phường Mão Điền đầu tư gần 2 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ khoảng 650 triệu đồng lắp đặt 50 lồng để nuôi 4 loại cá trên sông gồm: Tầm, diêu hồng, lăng đen, chép giòn. Với sự hỗ trợ, hướng dẫn của Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh, toàn bộ lồng cá nuôi của gia đình ông Thức đều được áp dụng quy trình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP. Theo đó, mỗi lồng được gắn biển, ghi chép cẩn thận về ngày thả, chủng loại giống, loại cám cho ăn, lượng thức ăn, thuốc phòng bệnh để giám sát quy trình nuôi, bảo đảm chất lượng và hiệu quả tại từng lồng nuôi cá, phục vụ việc truy xuất nguồn gốc khi tiêu thụ.
![]() |
|
Cán bộ Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh kiểm tra mô hình nuôi cá của gia đình chị Nông Thị Thảo. |
Nhờ áp dụng quy trình VietGAP, cá sinh trưởng, phát triển tốt, ít xảy ra dịch bệnh, chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá cao giúp gia đình ông nâng cao hiệu quả sản xuất. Với 50 lồng nuôi, sản lượng cá thu hoạch ước đạt 250-300 tấn, doanh thu 10-15 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí mỗi năm gia đình ông Thức có lãi khoảng 1,2-1,5 tỷ đồng.
Ông Thức cho biết: “Nuôi cá lồng trên sông có nhiều ưu điểm, như có thể thả nuôi với mật độ dày gấp nhiều lần so với nuôi cá trong ao, mỗi lồng có thể tích từ 160-220 m3 và thả được hàng nghìn con, có những lồng số lượng cá nuôi tương đương với diện tích khoảng 1 ha ao đất. Vì thế người nuôi có thể tăng sản lượng cá, nâng cao giá trị, hiệu quả kinh tế sau mỗi vụ thu hoạch. Tuy nhiên để đem lại doanh thu lớn buộc người nuôi cá lồng trên sông phải bỏ ra khoản chi phí ban đầu tương đối cao, khoảng 100-150 triệu đồng/lồng cho cá giống, thức ăn. Ngoài ra, người nuôi cũng cần nắm chắc yêu cầu kỹ thuật, lựa chọn được khu vực sông có mực nước sâu từ 3 m trở lên, nguồn nước sạch ổn định. Vị trí đặt lồng nuôi cá nơi khuất gió, có nước lưu thông tốt, đáy lồng cách đáy sông ít nhất 1 m giúp cá dễ tiếp nhận ôxy hòa tan trong nước, không bị cản trở bởi các vật cản ven bờ như rong, cỏ…”.
Từng làm công nhân tại Khu công nghiệp Quế Võ I với thu nhập khoảng 15 triệu đồng/người/tháng song năm 2018, vợ chồng anh Trương Văn Việt, chị Nông Thị Thảo ở thôn Thị Thôn, xã Chi Lăng quyết định trở về quê đầu tư nuôi cá bỗng, cá tầm bằng lồng trên sông Đuống. Với khoản đầu tư hơn 1 tỷ đồng, gia đình anh xây dựng được khu nhà quản lý, kho chứa thức ăn và 12 lồng nuôi. Nhờ được chuyển giao, hướng dẫn kỹ thuật nuôi và sự cần cù, nỗ lực, khắc phục khó khăn nên mô hình nuôi cá lồng của gia đình anh Việt, chị Thảo đạt hiệu quả kinh tế cao. Với 8 lồng nuôi cá bỗng, 4 lồng nuôi cá tầm, sản lượng xấp xỉ 40 tấn, gia đình có doanh thu khoảng 6 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 500 triệu đồng/năm.
Hướng đi hiệu quả
Toàn tỉnh hiện có 16,2 nghìn ha mặt nước nuôi thủy sản, trong đó 3.790 ha hồ chứa, 3.410 ha ruộng trũng, 9 nghìn ha ao, hồ nhỏ. Những năm trước đây, nông dân chủ yếu nuôi cá trong ao đất, đồng thời khai thác, đánh bắt trên hệ thống sông, hồ tự nhiên nên sản lượng thủy sản không cao.
| Thống kê đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 154 hộ nuôi 2.958 lồng cá trên sông. Với năng suất trung bình khoảng 5-6 tấn/lồng/năm, nuôi cá lồng trên sông đem lại sản lượng 16- 16,5 nghìn tấn/năm, chiếm gần 20% sản lượng thủy sản toàn tỉnh. |
Ngoài diện tích thủy sản trong ao đất, những năm gần đây nhiều nông dân mạnh dạn mở hướng đầu tư hệ thống lồng, bè để nuôi cá trên sông, tập trung nhiều nhất trên sông Đuống, sông Thái Bình nhằm khai thác những lợi thế dòng chảy, nguồn thức ăn và môi trường nước.
Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh, để khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước, thúc đẩy phát triển nuôi cá lồng trên sông, Chi cục đã tham mưu tỉnh có chính sách hỗ trợ 15 triệu đồng/lồng nuôi, đồng thời hỗ trợ chế phẩm sinh học vệ sinh, khử trùng môi trường nước khu vực lồng nuôi; thực hiện việc quy hoạch vùng nuôi, số lượng lồng nuôi từng khu vực, hạn chế số lồng vượt quy hoạch; tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gắn với truy xuất nguồn gốc để tiêu thụ và quảng bá sản phẩm; tập huấn quy trình kỹ thuật nuôi theo hướng VietGAP. Cùng đó, xây dựng các mô hình thí điểm đánh giá hiệu quả, triển vọng của từng giống cá.
Hiện nay, các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, thức ăn, quản lý môi trường, phòng trị bệnh được người nuôi cá lồng trên sông áp dụng rộng rãi. Bên cạnh đó, người nuôi sử dụng các chế phẩm vi sinh làm ổn định chất lượng nước, nâng cao sức khỏe, đề kháng cho cá, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nhờ đó, cá nuôi bằng lồng trên sông không xảy ra dịch bệnh lớn, chất lượng sản phẩm bảo đảm, được người tiêu dùng ưa chuộng.
Cơ cấu đàn cá thả nuôi bằng lồng trên sông cũng chuyển dịch theo hướng đầu tư thâm canh đối tượng cá có năng suất, giá trị kinh tế cao như: Tầm, lăng, chép giòn, rô phi, diêu hồng nhằm nâng cao giá trị kinh tế, thu nhập cho người chăn nuôi.
Thống kê đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 154 hộ tham gia nuôi 2.958 lồng cá trên sông. Với năng suất trung bình khoảng 5-6 tấn/lồng/năm, chăn nuôi cá lồng trên sông đem lại sản lượng 16 - 16,5 nghìn tấn/năm, chiếm gần 20% sản lượng thủy sản toàn tỉnh.
Nghề nuôi cá lồng trên sông ngày càng khẳng định được hiệu quả kinh tế cao, trở thành hướng đi mới cho các hộ nuôi thủy sản. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô, số lượng lồng nuôi cần phù hợp, đáp ứng những yêu cầu, quy định về đường thủy nội địa, tránh những rủi ro về dịch bệnh, môi trường và thiên tai.
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)