Khơi thông “điểm nghẽn” nâng cao hiệu quả vận hành bộ máy nhà nước
Theo các chuyên gia kinh tế, việc khơi thông mọi “điểm nghẽn” tư duy và cơ chế được coi là mệnh lệnh từ thực tiễn để nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước.
Nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về đổi mới phương thức làm việc tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIV), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ toàn hệ thống phải kiên quyết loại bỏ các rào cản hành chính đang gây bế tắc cho doanh nghiệp và làm chậm nhịp độ phát triển.
![]() |
|
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam nhìn nhận, đổi mới bộ máy chỉ đạt hiệu quả khi đi liền với đổi mới quy trình vận hành của bộ máy nhà nước. |
Việc khơi thông mọi “điểm nghẽn” tư duy và cơ chế được coi là mệnh lệnh từ thực tiễn để nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước.
Khâu nào ách tắc, trách nhiệm phải gắn với khâu đó
Dưới góc nhìn nghiên cứu kinh tế, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định, thực chất của cuộc cải cách hành chính hiện nay là cuộc cách mạng về lề lối làm việc, hướng tới mục tiêu rút ngắn tối đa thời gian xử lý, đạt hiệu quả công việc cao nhất và chớp lấy những cơ hội phát triển vàng của đất nước. Dù bộ máy đã được tinh gọn nhưng tình trạng chậm trễ, lòng vòng, chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm và kéo dài thời gian xử lý vẫn đang tồn tại.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng, rào cản lớn nhất không nằm ở số lượng cơ quan hay cấp quản lý mà xuất phát từ phương thức giải quyết công việc chưa dựa trên một quy trình khoa học, tinh gọn nhằm tối ưu hóa thời gian và chi phí.
Trong nền kinh tế hiện đại, thời gian xử lý càng kéo dài, chi phí cơ hội càng đắt đỏ. Sự chậm trễ ấy không chỉ khiến doanh nghiệp phải trả giá, mà còn tiếp tay cho đối thủ cạnh tranh và đẩy đất nước trước nguy cơ tụt hậu. Bản chất vấn đề nằm ở tốc độ xử lý thông tin và năng lực giải quyết công việc đặc biệt là những việc phức tạp, chưa có tiền lệ. Toàn hệ thống đòi hỏi một sự chuyển mình mạnh mẽ về tư duy và phương pháp vận hành: Tinh gọn, hiệu lực, năng suất cao, tạo đà bứt phá cho tăng trưởng hai con số, gia tăng sức mạnh doanh nghiệp và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ phát huy năng lực sáng tạo.
Để khắc phục triệt để tình trạng “bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo và xin ý kiến nhiều vòng đối với việc thuộc thẩm quyền,” Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng chỉ rõ, tình trạng này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: Sự né tránh khi đụng chạm đến lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và sự e ngại rủi ro pháp lý do thể chế chưa thực sự rõ ràng.
Do đó, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng đề xuất trước hết cần tối ưu hóa quy trình và xác định rõ trách nhiệm cá nhân; thiết kế quy trình khoa học, liên tục với cơ chế giám sát xuyên suốt và đánh giá tác động toàn diện (ngắn hạn-dài hạn, trực tiếp-gián tiếp). Khâu nào ách tắc, trách nhiệm phải gắn với khâu đó; kiên quyết loại bỏ các khâu cản trở, đồng thời triển khai thử nghiệm có kiểm soát hoặc xây dựng phương án thay thế. Thành lập đầu mối chuyên trách để theo dõi, xử lý dứt điểm các điểm nghẽn và quy trách nhiệm rõ ràng. Đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm trong giai đoạn chuyển đổi, phải xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ, hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng minh bạch, đẩy mạnh số hóa và liên thông quy trình giữa các bộ, ngành, địa phương để tránh tình trạng “một khâu yếu làm chậm cả hệ thống."
Để các quyết sách đạt chất lượng thực chất, chấm dứt tình trạng "nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến," Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng cho rằng giải pháp then chốt nằm ở bộ ba đột phá. Theo đó, đột phá về dữ liệu, thông tin phải bảo đảm thông suốt; dữ liệu giữa các ngành phải liên thông, đáp ứng đúng chuẩn "đúng, đủ, sạch, sống," thống nhất, dùng chung và cập nhật tin cậy. Đẩy mạnh số hóa, khai thác và công khai dữ liệu trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia để xóa bỏ tình trạng ách tắc do thiếu kết nối. Trong trường hợp thiếu dữ liệu, áp dụng các mô hình mô phỏng, thí điểm hoặc thử nghiệm có kiểm soát, đồng thời xây dựng mô hình đánh giá, kiểm định và điều chỉnh chính sách kịp thời.
Đột phá về quy trình, rà soát, rút gọn quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá tác động dựa trên dữ liệu cập nhật. Đối với từng văn bản, cần quy định rõ nội dung, thời hạn góp ý và cơ quan chịu trách nhiệm chính. Trang bị đầy đủ công cụ hiện đại để lực lượng tham mưu xây dựng chính sách một cách khoa học, đồng bộ, công khai và linh hoạt điều chỉnh khi thực tiễn yêu cầu.
Đột phá về đội ngũ, tập trung đào tạo lại lực lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số; nâng cao năng lực, bản lĩnh trách nhiệm và tư duy sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ đề xuất các phương pháp làm việc mới. Đội ngũ mới phải vận hành trên nền tảng dữ liệu minh bạch, tăng cường phối hợp liên ngành và triệt tiêu tư duy lợi ích cục bộ.
Đẩy mạnh dữ liệu số, rút ngắn thủ tục hành chính
Từ thực tiễn quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển xanh, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam cho rằng đổi mới bộ máy chỉ đạt hiệu quả khi đi liền với đổi mới quy trình vận hành. Nếu bộ máy được thu gọn về cơ cấu tổ chức nhưng vẫn duy trì cách làm “xin ý kiến lòng vòng,” hiệu quả quản lý không những không được cải thiện mà nguy cơ chậm trễ có thể gia tăng.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh, khi biên chế được tinh giản nhưng khối lượng công việc và quy trình xử lý không thay đổi, áp lực lên từng vị trí công tác sẽ lớn hơn. Điều này dễ dẫn đến tâm lý né tránh, ngại sai, hoặc tiếp tục chuyển văn bản sang cơ quan khác để “chia sẻ rủi ro.” Trong lĩnh vực kinh tế, sự chậm trễ có thể làm mất cơ hội đầu tư.
Để khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm tại các lĩnh vực có tính liên ngành cao, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh cho rằng cần làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ thực thi. Người đứng đầu không thể chỉ đóng vai trò chuyển tiếp văn bản hoặc lạm dụng việc xin ý kiến để bảo đảm an toàn cho bản thân, mà phải có đủ năng lực chuyên môn để đánh giá bản chất vấn đề, ra quyết định trong đúng thẩm quyền được giao. Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế giám sát tiến độ xử lý hồ sơ theo thời gian thực để kịp thời phát hiện, xử lý các điểm nghẽn hành chính thay vì tổ chức các cuộc họp hình thức. Hành vi nhũng nhiễu, chậm trễ cần bị xử lý nghiêm; đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ và khen thưởng phù hợp đối với cán bộ giải quyết hồ sơ sáng tạo, đúng pháp luật, góp phần rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp.
Đối với cán bộ chuyên môn, cần nắm vững các quy định pháp luật, loại bỏ tâm lý “không biết thì gửi văn bản hỏi cho chắc” khiến thủ tục kéo dài. Thay vì gửi văn bản hành chính thụ động và chờ phản hồi, các cơ quan liên quan cần chủ động thiết lập kênh làm việc liên thông, phối hợp giải quyết dứt điểm những nội dung chưa thống nhất trong hồ sơ.
Về ứng dụng dữ liệu và công nghệ số, Phó Giáo sư, Tiến sỹ nhấn mạnh, chuyển đổi số không chỉ là số hóa giấy tờ thành tệp PDF để gửi qua thư điện tử, mà phải thay đổi phương thức thẩm định và giám sát trên nền tảng dữ liệu số được chuẩn hóa, tự động. Cụ thể cần xây dựng Cơ sở dữ liệu Môi trường quốc gia tập trung, tích hợp dữ liệu quan trắc tự động từ nhà máy, khu công nghiệp; dữ liệu đa dạng sinh học và quy hoạch lâm nghiệp vào Hệ thống thông tin địa lý dùng chung giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương cùng các địa phương.
Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa và tự động hóa quy trình thẩm định. Doanh nghiệp nộp hồ sơ đánh giá tác động môi trường dưới dạng dữ liệu có cấu trúc; hệ thống ứng dụng trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ quét, phân tích, cảnh báo các xung đột quy hoạch, như dự án nằm trong hành lang bảo vệ nguồn nước hoặc rừng đặc dụng, thay cho việc mất nhiều tuần nghiên cứu thủ công.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh cũng đề xuất tổ chức các hội đồng thẩm định trực tuyến, tạo điều kiện để chuyên gia và đại diện các bộ, ngành cùng truy cập hồ sơ số, xem mô hình giả lập tác động môi trường và đưa ra ý kiến phản biện độc lập. Việc lưu vết ý kiến trên hệ thống sẽ giúp tăng tính minh bạch, hạn chế sự can thiệp chủ quan trong quá trình thẩm định.
Sau khi dự án đi vào vận hành, công tác giám sát cần chuyển dần từ thanh tra định kỳ sang giám sát tự động thông qua các trạm quan trắc IoT truyền dữ liệu liên tục về trung tâm. Khi chỉ số vượt ngưỡng, hệ thống sẽ phát tín hiệu cảnh báo để cơ quan chức năng kịp thời xử lý.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)