Người anh trai
Đọc truyện ngắn "Con mối" của ông trên báo tỉnh, đến đoạn ông Nhình quăng mìn đánh cá sông cụt tay, vợ ông bảo: Truyện như thật nhỉ? Làm em nhớ...
Tưởng vợ khen mình, ông cười: Thì viết về quê vợ, lấy chuyện làng vợ để viết, dù có "mô ni phê" vẫn từ "bột" làng, sao không... như thật? Viết để bà nhớ làng...
Bà cười giòn tan: Là em nhớ chuyện khác. Em nhớ lúc em còn nhỏ, chừng 7, 8 tuổi gì đấy, cùng anh Phồ vớt cá mìn đấy!
![]() |
|
Minh họa: HN. |
Ông nhìn vợ chăm chăm: Không bịa đấy chứ? Một cô bé quần thủng đít, một ông anh khiếm thị mà lại đánh mìn, lại bơi trên dòng sông vừa rộng, vừa sâu vớt cá? Không tin!
- Ơ hay! Em có bảo đánh mìn đâu, còn ghét người đánh mìn ấy. Em bảo vớt cá mìn mà.
Tò mò, ông nhẹ giọng: Ừ thì anh nghe không thủng. Nhưng ngay cái chuyện bác Phồ không nhìn thấy gì mà vớt cá trên sông cũng thật khó tin.
Bà kể: Thật ra có ý định vớt cá đâu. Chả là hai anh em đi cất vó tôm ở sông. Anh ấy đi với em để khỏi sợ ma thôi. Sáng ấy, vừa thả vó thì em nhìn thấy vật gì lấp loá trắng trắng, đen đen trên mặt nước, cách bờ không xa. Thấy em rối rít , anh Phồ hỏi: "Gì thế bé?" Em mới tả. "Cá rồi! Cá nổi do bị mìn rồi", anh nói. "Sao anh biết?". "Nãy anh nghe tiếng mìn. Chắc lại ông Nhình rồi. Chưa chừa!". "Ờ. Đúng cá rồi anh. Tiếc thật". " Để anh lội, anh bơi vớt nó nhé". Em mới trêu: "Mắt anh có nhìn thấy gì đâu mà bơi mới vớt. Thôi đi, anh chết đuối lấy ai dẫn em cất vó tôm". Anh cười trấn an: "Khúc sông này không sâu, nước lững lờ thôi". Em nhìn sông rồi lè lưỡi: "Anh nhìn thấy à?" Nói xong, em lại sợ anh ấy tủi thân, may quá, anh chỉ khì khì cười: "Người quăng mìn chọn khúc như thế thì mới có cá, cá bị nổi mới không trôi đi xa được". Anh nói thêm: "Em biết là anh biết bơi mà. Anh em mình phối hợp. Em đứng trên bờ, hô cá ở vị trí nào, điều anh đến đấy là được. Còn dễ hơn bảo anh bắt gà ở sân". Chả để em ngăn, anh dò dò rồi ùm xuống sông. Em trên bờ hét, chỉ đường, chỉ lối. Thế mà anh ấy túm được cá thật! Một con cá sông có dễ hơn cân còn tươi nguyên. Hai anh em không cất tôm nữa, hí hửng về khoe mẹ. Ai ngờ bị cụ mắng cho một trận và cấm không bao giờ được liều lĩnh thế!
Tự nhiên tay ông run run: Ừ! Liều. Thật liều...
Bà cười: Liều có cơ sở đấy. Một là em biết anh Phồ biết bơi, mà anh ấy thanh niên rồi; hai là em nhìn thấy có mấy người đàn ông làng biết bơi như rái cá đang làm gần nên nghĩ bụng có gì thì kêu cứu sau!
Ông hỏi: Em có hay đi rừng với anh Phồ không?
Bà gật đầu: Người đồng rừng biết và phải đi rừng từ tấm bé. Đi để kiếm ăn, từ bó củi, quả sim, hạt dẻ đến củ mài, cái măng, túm mộc nhĩ, lá ỏng, cây giang... Nhà đông anh em, nhưng các anh chị lần lượt "tách đàn", người lấy vợ, lấy chồng, người vào bộ đội, còn có ông anh mắt kém và cô em út. Mẹ công tác xã, bố yếu đau, hai anh em không đi rừng thì ai đi cho? Mà em đã đi thì chẳng rủ anh cũng đi cùng. Anh bảo đi làm bạn đường, để em không bị lạc, bị bắt nạt nhưng thật ra là để gánh vác nặng cho em.
Bà lại nhoẻn cười: Thực là anh dẫn em đi rừng, chứ không phải là em. Em còn bị vấp mô đất, hòn đá trên những con đường mòn của rừng, chứ anh thì không. Mùa sim, anh chỉ cho em đến nơi sim chín rộ nhất, trái sim to và ngọt nhất. "Bé ạ! Anh ngửi thấy từ xa mà. Đố có mùi thơm nào giống mùi sim chín". Nhặt mộc nhĩ, anh đưa đến nơi có nhiều lại dày. "Không khó gì, nơi này ẩm thấp quanh năm, lại toàn cây khô mục không độc". Sờ sờ, hít hà nấm trên tay, anh biết cái nào ngon phải để riêng, cái nào độc phải vất bỏ. Vui nhất là mùa khô đi lượm hạt dẻ. Đêm hanh hao nghe trời trở gió, sáng ra anh giục khoác nải lên rừng. "Gió lay giúp mình rồi, quả dẻ đang lộp bộp rơi đấy". Hạt dẻ ngon, bán có tiền, nhưng kiếm được rất gian nan. Dễ bị mất da, chảy máu lắm. Quả dẻ nhiều gai, rơi xuống đất, dẫm vào như dẫm phải đinh, buốt thon thót. Anh bắt em đi giày cẩn thận. "Việc của anh là đưa bé đến vạt rừng có cây dẻ to, sai quả. Còn nhặt được nhiều hay ít là do bé nhé". Có hôm thấy quả dẻ rơi vào đầu anh, em vừa khanh khách cười đã phải im bặt vì anh nhăn nhó: "Ái già! Đau buốt quá". Quăng cái nải đấy, em chạy lại với anh. Một tay ấn chặt vết thương, một tay anh xua xua: "Anh giả vờ đấy, nhằm nhò gì đâu. Muỗi...". Hai anh em lại cười vang cả cánh rừng.
Đón cốc nước ấm từ tay ông, bà bồi hồi kể tiếp: Năm em học lớp 7, hệ cũ, lúc ấy bố mất, chỉ còn ba mẹ con, em nói với anh Phồ: "Em nghĩ kỹ rồi. Học hết cấp 2, em không học cấp 3 cũng không đi chuyên nghiệp đâu. Em ở nhà làm lụng nuôi mẹ, nuôi anh". Anh hướng đôi mắt hỏng về phía em , giọng lành lạnh: "Con bé này! Em nói gì vậy. Nói vui thôi nhé". Em khăng khăng: "Em nói thật mà. Các anh chị ai có phận nấy. Anh nuôi em từ tấm bé rồi. Sau thầy u già, em phải nuôi anh chứ?". "Bé nuôi anh bằng cách nào?". "Thì rừng vàng, sông bạc, bao năm nay anh em mình đã từng...". Anh im lặng thật lâu mới lên tiếng: "Út à, cứ bòn mãi lộc rừng mà không nuôi rừng, rồi rừng sẽ giận, hết mất. Có sống cũng lắt lay. Chưa kể người ngày một đông, rừng rồi sẽ hẹp. Em có nghe tiếng cưa, tiếng rìu, tiếng cây đổ không? Có đau, có xót không? Anh sợ lắm, ngày nào đó nước ngập, đá chạy về làng. Sợ lắm ngày nào đó không còn nghe tiếng lốc cốc mõ trâu. Phải nuôi rừng để sống tốt hơn bé à. Muốn nuôi rừng thì phải có chữ, có nghề. Người có chữ dạy người khác cách nuôi rừng và cùng nuôi rừng. Em phải đi học, không phải để chạy khỏi làng mà vì làng. Học nghề rừng hay học làm cô giáo cũng được. Không lo nuôi anh đâu. Anh có cuộc đời của anh chứ. Nhiều người còn thiệt thòi hơn anh người ta vẫn tự sống còn đóng góp cho xã hội". Em xuống nước: "Bao giờ anh lấy vợ thì em mới đi học". "Con bé này ghê thật"... Chả biết có vì cái ngoắc tay hứa hẹn của hai anh em không mà vài tháng sau anh theo mẹ về xuôi tìm được vợ. Và thời gian sau em xa nhà đi học sư phạm.
Hai vợ chồng đang vui chuyện thì mẹ con con gái đến.
- Ông bà có chuyện gì mà rôm rả thế ạ?
Bà vui vẻ nói: Đang kể chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện bác Phồ cho ông nghe đấy.
Bé Trà, mắt long lanh: Ôi vui quá. Chuyện quê ngoại. Bà ơi! Mai con về quê bà đấy, chúng con đi chùa Am. Chắc bà đi rồi, chùa đẹp không bà? Bạn con nó bảo nơi ấy là tiên cảnh ạ.
Bà cốc nhè nhẹ đầu cháu: Hỏi bà nhưng tự trả lời rồi nhé. Tiên cảnh. Ừ, hơn 60 năm trước, ông bác Phồ của con cũng nói với bà như thế.
Trà nhướng mắt nhìn bà: Bà kể con nghe với, bà ơi!
Lời bà như từ xa xăm: Năm ấy bà còn bé lắm, bé hơn Trà bây giờ, đi rừng với ông Phồ, bà hay than vãn: "Làng mình nghèo, khổ thế anh? Nghe đài, xem phim thấy quê người ta đẹp, náo nhiệt mà quê mình chỉ có núi, có khe, hoang vắng đến ghê sợ". Ông bác hỏi bà: "Thế sao hôm bé đi xem phim về khoe với anh bọn dưới xuôi tranh nhau từng quả sim, hạt dẻ, vừa ăn vừa tấm tắc khen rồi ao ước được sờ cây sim, nhìn cây dẻ?" Bà cố cãi: "Là họ thấy lạ thôi". "Thì quê mình hơn họ cái lạ đó". Mấy hôm sau, ông bác rủ bà đi chơi, bà thích lắm. Ông bảo: "Lên chùa Am trên đỉnh núi nhé, trèo núi dốc quanh co 3 cây số đấy" Đúng là như thế! Nhưng mà càng lên cao càng thấy làng mình đẹp. Nghe tiếng chim líu lo, tiếng mõ trâu lốc cốc thấy là lạ. Vừa đi, ông bác vừa kể cho bà nghe về sự tích ngôi chùa. "Chùa có lâu lẩu lầu lâu rồi, bây giờ người ta tạm bỏ quên thành ra hoang phế. Nhưng chắc vẫn còn giếng nước rất trong không bao giờ vơi, hang gạo, bàn cờ tiên". Cứ mỗi di tích như thế là một truyện cổ tích ông bác kể. Huyền thoại và lịch sử đan xen. Ảo và thực hoà quyện. Lên đến chùa, bà bám vào ông để ông dò dẫm dẫn đi. Rồi kéo bà ngồi xuống hòn đá quây quanh đá lớn phẳng phiu, ông nghiêm trang: "Anh em mình đang ngồi nơi các ông tiên đánh cờ. Em nhìn trên đầu xem có bồng bềnh mây trắng không? Mà này, em có thấy những chú chim lích chích như gà con bên cạnh không? Đâu đây như tiếng vo ve của những chú ong rừng. Thân thiện lắm phải không?" Ông chỉ tay về phương Nam: "Nơi ấy là Yên Tử, có ông vua tu hành. Đỉnh núi này cũng nằm trong hệ thống tu tập lâu đời lắm rồi đấy". Ông kể nhiều, nhiều lắm. Càng nghe, đầu bà càng sáng ra.
Bà chiêu ngụm nước nhỏ: Chỉ một chuyến đi ấy mà ông bác mắt kém đã là thầy giáo dạy lòng yêu nước, yêu làng cho bà. Văng vẳng bên tai bà bây giờ vẫn còn lời ông bác: "Em bé à! Quê mình đẹp chứ nhỉ? Không đẹp sao tiên đến ở? Mình có nhận ra không thôi. Có biết làm cho quê mình giàu lên không thôi". Bây giờ thì Am đã là điểm du lịch, tiếc là ông bác đã đi xa.
Thấy mẹ thúng thắng ho khan, mắt ươn ướt, con gái bà kể chuyện vui: Con gặp anh Học nhà bác Phồ ở hội diễn văn nghệ quần chúng của tỉnh. Anh này ghê thật! Vải, cam hàng chục tấn, sắp đặt việc cho con đâu đấy mà còn phơi phới hát hò. Cháu bà được huy chương đấy ạ.
Nét mặt bà tươi trở lại:
- Có "gien" đấy, nhưng chưa bằng ông Phồ hồi trẻ đâu. Chả học hành gì cả mà ông ấy chế được nhạc cụ, sáng tác được dân ca, hát được nhạc mới đúng lời, đúng nhịp. Giời không lấy của ai hết cả. Giời bù cho ông bác đôi tai nghe tinh, thẩm tinh, cái tay khéo léo và cả chất giọng ấm áp. Ấy là chưa kể cái đầu, cái óc. Ngày xưa lặn lội đi thi, đi biểu diễn khắp Hà Bắc. Tiếng sáo của nghệ nhân Phồ đã lay động bao nhiêu người. Nhà hai bác thành nơi sinh hoạt của đội văn nghệ làng do ông Phồ thành lập và huấn luyện, cũng là điểm đến của nhiều nghệ sĩ, nhiếp ảnh, diễn viên sân khấu, nhà thơ, thậm chí tận sau này, ông bí thư huyện mỗi dịp về xã đều đến thăm ông. Họ, người thì nhận đồng niên, người xin là em ông.
Ông gật đầu:
- Ông anh nhà mình là người không bao giờ thiếu tự tin, mặc cảm và buông xuôi hay dựa dẫm người khác vì sự khiếm thị của mình mà luôn tự trọng, tự chủ để sống đẹp. Cùng với bà ngoại về nơi xa lạ để tìm vợ là đủ thấy ông bản lĩnh thế nào.
Bà xin ngắt ngang lời ông: Cụ ngoại nhà mình trước khi cùng ông Phồ về xuôi có dặn ông đem theo cây sáo. Thế là buổi tối, ở nhà người quen, ông lấy sáo ra thổi, giai gái làng nghe hay quá, lũ lượt kéo nhau tới. Cô gái cụ nhắm hỏi cho con giai cũng lẫn trong số ấy. Chắc là Mị Nương phải lòng Trương Chi nhà mình từ lúc ấy rồi nên hôm sau đã thuận lời chàng.
Cả nhà cùng cười. Ông nói tiếp: Chính vì thế hai ông bà tôn trọng nhau, cùng nhau vun đắp cây đời hạnh phúc. Bây giờ ông bà, bác bá đi xa chắc vẫn nở nụ cười mãn nguyện.
Tiếng chuông điện thoại của Trà reo vang. Con bé nghe xong, tiếc nuối: Bạn con gọi rồi. Tiếc quá, con phải đi sắp đồ cho ngày mai, không được nghe ông bà kể tiếp chuyện ông bác...
Bà âu yếm nhìn cháu:
- Chuyện ngày xưa của các ông, các bà, con còn thích nghe là quý lắm rồi. Không nghe hôm nay thì còn nhiều hôm khác. Con cứ đi đi. Nhớ giữ an toàn con nhé.
Trà "vâng" thật to rồi nhỏn nhẻn: Ngày mai, tại chùa Am, con lại có chuyện kể cho các bạn con nghe rồi. Con xin phép ông bà ạ.
Bà vòng tay ôm cháu: Nhớ là trả "bản quyền" bằng cam, bưởi Nam Dương nhé!
Mẹ con Trà đã ra khỏi cửa mà tiếng cười vẫn đọng lại trong không gian.
Bắc Ninh














Ý kiến bạn đọc (0)