Trên cầu Hiền Lương, gặp nụ cười trong gió sớm
BẮC NINH - Hiền Lương - hai tiếng thân thương gợi nhắc đến đức hiền lành, lương thiện - cũng là tên của một dòng sông, một cây cầu đã đi vào lịch sử dân tộc như chứng nhân của những năm tháng kháng chiến hào hùng, ghi dấu hành trình giành độc lập và thống nhất đất nước.
Chứng nhân lịch sử
Thế hệ sinh ra sau ngày đất nước thống nhất như chúng tôi biết đến Hiền Lương qua trang sách lịch sử, qua những câu chuyện kể. Rằng, sông Bến Hải bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17° Bắc theo hướng từ Tây sang Đông, rồi đổ ra biển ở Cửa Tùng. Tại vùng hạ nguồn thì sông Bến Hải nối với sông Thạch Hãn qua sông Cánh Hòm. Sông Bến Hải chảy cách biển khoảng 20 km thì một phụ lưu nhập vào là sông Sa Lung bên tả ngạn. Hai con sông hợp lưu chảy tiếp ra Biển Đông, qua một làng ở bờ Bắc có tên Minh Lương nên được gọi là sông Minh Lương. Sông có tổng chiều dài chừng 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200 m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị (cũ). Dưới triều Minh Mạng, do phải kiêng húy vua nên cả tên làng và tên sông Minh Lương được đổi thành Hiền Lương. Từ đó, cây cầu bắc ngang gần ngã ba sông Sa Lung và Bến Hải cũng mang tên cầu Hiền Lương.
![]() |
Cụm Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải. |
Cuối năm 1953, trước những chuyển biến mạnh mẽ trên cục diện chiến trường ở Đông Dương, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương mở cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 để đi tới chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và toàn Đông Dương. Ngày 8/5/1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", tại Thụy Sỹ, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trải qua 75 ngày đàm phán căng thẳng và phức tạp, Hiệp định Genève được ký vào ngày 21/7/1954. Cùng với bản Tuyên bố về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương, bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam đã khẳng định độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Các em học sinh say mê khám phá lịch sử dân tộc, du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc hào hứng chụp ảnh lưu niệm với cây cầu lịch sử. Gió từ sông Bến Hải thổi lên mang theo hơi nước mát lành. Nhìn những nụ cười trong gió sớm, càng cảm nhận rõ hơn ý nghĩa của “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” chúng ta đang có hôm nay. |
Theo Hiệp định, quân đội nước ngoài phải rút hết khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đất nước Việt Nam tạm chia thành hai miền Bắc - Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời. Sông Bến Hải là ranh giới giữa 2 miền trong thời gian 2 năm chờ cuộc tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam, được quy định vào tháng 7/1956. Vùng phi quân sự được thiết lập dọc hai bờ sông Bến Hải, mỗi bên cách bờ sông 5 km… Tại khu vực này, hai bên không được bố trí quân đội mà chỉ có lực lượng cảnh sát làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ an ninh. Nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam thay chân thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài suốt 21 năm. Từ vị trí giới tuyến quân sự tạm thời, sông Bến Hải đã chứng kiến nỗi đau chia cắt dân tộc, chia cắt người dân đôi bờ. Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải cũng là "chứng nhân lịch sử" hơn 20 năm mang trên mình nỗi đau ấy.
Quá khứ hào hùng
Hai bên bờ sông Bến Hải gắn với cây cầu Hiền Lương hiện nay là Cụm Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải, bao gồm: Cầu Hiền Lương, Cột cờ ở bờ Bắc, Nhà liên hợp, Đồn công an giới tuyến, Giàn loa phóng thanh, cụm tượng đài "Khát vọng thống nhất" ở bờ Nam, Nhà Bảo tàng Vĩ tuyến 17. Tâm điểm của cụm di tích là cây cầu Hiền Lương đã được phục chế như nguyên bản, nửa phía Nam sơn màu vàng, nửa phía Bắc sơn màu xanh.
![]() |
Cầu Hiền Lương. |
Một lần đến thăm Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe hướng dẫn viên kể lại những câu chuyện cảm động diễn ra những ngày còn chia cắt. Có một em bé được cứu sang bờ Bắc, mỗi lần nhớ mẹ bị kẹt lại ở bờ Nam, em lại ra sông cất tiếng gọi “Mạ ơi!”. Người mẹ nghe con gọi đau lòng xé ruột, nhưng chỉ đứng bờ Nam nhìn qua hai hàng nước mắt, không dám lên tiếng trả lời. Bà con bờ Nam muốn nhắn tin với người thân ở bờ Bắc phải dùng ám hiệu: Đầu vấn khăn tang, hai tay úp vào mặt là báo tin có người chết; hai cánh tay quặt ra phía sau là dấu hiệu có người bị bắt; giơ nắm tay dứ dứ lên trời là tượng trưng cho một cuộc đấu tranh chống địch vừa xảy ra… Rồi chuyện một đám tang tại vùng giới tuyến có đến “4 đoàn” người đưa tiễn. Khi có người qua đời, Nhân dân bờ bên này đưa người quá cố đi dọc bờ sông, phía bên kia sông cũng có một đoàn lặng lẽ đưa tang. Và hai “đoàn” khác nữa chính là hình bóng của hai đoàn người in trên mặt nước sông. Đặc biệt là câu chuyện về sự việc ngày 20/5/1967, bà con các làng, xã ven sông: Xuân Mỹ, Bạch Lộc, Trung Sơn… không chịu vào ở trong ấp tập trung của địch, lợi dụng lúc pháo của ta bắn vào trại lính đã ùa chạy ra sông, bơi sang bờ Bắc. Nhân dân bờ Bắc hối hả dùng mọi phương tiện vượt sông sang cứu người. Bọn địch báo hiệu cho pháo từ Dốc Miếu, từ Hạm đội 7 bắn tới tấp. Tại bến đò Tùng Luật, mặc dù tình thế hiểm nguy, bà con vẫn lao sang chở đồng bào bờ Nam. Tại xã Trung Sơn, pháo địch dội trúng đã làm chết và bị thương 120 người…
Gian khổ là thế, hiểm nguy là thế nhưng với truyền thống anh dũng, bất khuất, quân và dân ta quyết không lùi bước trước kẻ thù: “Một thân không thể chia đôi/ Lửa gươm không thể cắt rời núi sông/ Gươm nào chém được dòng Bến Hải? Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn?/... Trăm sông về một biển Đông/ Bắc Nam sẽ lại về trong một nhà!” (Ba mươi năm đời ta có Đảng-Tố Hữu). Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi, quân ta cắm lá cờ đỏ sao vàng trên nóc Dinh Độc Lập. Từ đây, non sông hoàn toàn thống nhất, Nhân dân hai miền Nam Bắc được sum vầy. Nhiều cuộc hội ngộ trong nước mắt, trong nụ cười đã diễn ra trên cây cầu Hiền Lương lịch sử. Sau ngày đất nước thống nhất, một cây cầu mới đã được xây về phía Tây cầu cũ để bà con đi lại. Cầu Hiền Lương được giữ lại và phục chế nguyên dạng theo giai đoạn 1952 - 1967, làm tâm điểm cho Cụm Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.
Theo chân đoàn du khách bước trên cây cầu Hiền Lương, nhìn sang bên bờ Bắc, lá Quốc kỳ kiêu hãnh tung bay trên bầu trời. Màu đỏ thắm của Quốc kỳ gợi nhớ đến lá cờ tung bay trên Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945, khi Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào; lá cờ chiến thắng cắm trên nóc hầm chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954; trên nóc Dinh Độc Lập, Sài Gòn ngày 30/4/1975. Màu cờ đỏ nhắc nhớ: Độc lập, tự do ngày hôm nay của chúng ta được dựng xây lên từ mồ hôi, nước mắt và máu xương của những thế hệ người dân nước Việt anh dũng, kiên cường, bất khuất, từng hết mình phụng sự Tổ quốc như thế.
Các em học sinh say mê khám phá lịch sử dân tộc, du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc hào hứng chụp ảnh lưu niệm với cây cầu lịch sử. Gió từ sông Bến Hải thổi lên mang theo hơi nước mát lành. Nhìn những nụ cười trong gió sớm, càng cảm nhận rõ hơn ý nghĩa của “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” chúng ta đang có hôm nay.
Ý kiến bạn đọc (0)