Truyền thông xưa về vùng Tây Yên Tử
BẮC NINH - Vì nhiều lý do, thông tin truyền thông về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Bắc Ninh nói chung, vùng Tây Yên Tử nói riêng trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX chưa được chú trọng. Đến nay, việc sưu tầm, khai thác các nguồn tư liệu truyền thông về tỉnh Bắc Ninh góp phần “bù lấp” nhiều khoảng trống. Truyền thông trên các nguồn sách, báo về vùng non cao Tây Yên Tử công bố trên sách, báo có thể xếp thành các nhóm chính: Lịch sử, địa lý - trật tự, trị an - văn hóa, văn nghệ…
Từ tầm nhìn bao quát, nhà Hán học Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) trong bài khảo cứu Danh thắng Hải Dương (núi An Tử) đã nhận diện: “An Tử là một ngàn núi rừng to lớn ở mé Đông Bắc xứ Bắc Kỳ. Mé Bắc núi về phận ba huyện Lục Ngạn, An Châu, An Bác, tỉnh Bắc Giang; mé Tây và Nam về hai huyện Chí Linh, Đông Triều, tỉnh Hải Dương; mé Đông về phận tỉnh Quảng Yên” (Nam Phong Tạp chí, 1931)…
![]() |
|
Thác Giót Tây Yên Tử. Ảnh: Linh Giang. |
Theo Nhật Nham Trịnh Như Tấu (1915 - 1947) trong sách Bắc Giang địa chí (1937), ngay từ tháng 10/1884, người Pháp đã đưa Tuần dương hạm La Hache kèm một chiếc thuyền mành đi thám hiểm và đánh phá, càn quét dọc sông Lục Nam cho tới bến Lầm (Đầm). Vào những năm 1889 - 1890, quân Pháp đưa quân đóng khắp vùng rừng Biển Động, An Châu, Vi Loại, Mai Xiu (Sưu). Năm 1900, nhà nước Pháp Nam đã dự định thành lập tỉnh Đông Triều, lấy xã Mai Sưu (nay thuộc xã Trường Sơn) làm tỉnh lỵ nhưng vì nhiều điều trở ngại nên bãi bỏ... Thổ nhưỡng vùng Tây Yên Tử hợp với cây chè: “Chè trồng trên các đồi núi mấy xã Nghĩa Phương (Quỷnh), Khả Lễ (Rùm), Chỉ Tác (Dừa), Mai Sưu… Mấy làng Rùm, Quỷnh, Mai Sưu nhờ có chè mà dân cư rất phồn thịnh. Tuy ở nơi xa lánh mà trong làng nhà gác chen nhau, xa xa trông tựa một thành phố trong vùng sơn dã”…
Trong nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến vùng Tây Yên Tử cần đặc biệt ghi nhận ghi chép sinh động, công phu, tường tận của Nhật Nham trong bài “Theo vết nhà Mạc qua nơi non cao, rừng thẳm”, trong đó nhấn mạnh việc nhà Mạc lập hành doanh tại một nơi hiểm trở đã mở đường tiếp tế và rút quân: “Đoạn sau từ chân hòn núi Bò Nằm, qua mấy dãy núi, xuyên qua địa hạt xã Nghĩa Phương, chạy đến Đồng Dinh thuộc xã Cẩm Nang thì cách sông Bò (chi lưu sông Lục Nam) đến dãy núi Bảo Đài, theo dãy núi Bảo Đài đi qua Sơn Động, rồi chạy thẳng đến Ải Quan, qua Lạng Sơn tới Cao Bằng” (Tri Tân tạp chí, 1944).
Về vấn đề xã hội, trật tự, trị an, các nguồn thông tin cho biết vùng rừng núi Tây Yên Tử trở thành căn cứ chống Pháp, nơi trốn lánh, ẩn náu của những người yêu nước khi bị truy nã. Chẳng hạn, có chuyện nhà hoạt động tên Đạm đứng đầu Tỉnh bộ Việt Nam Quốc dân đảng bị truy nã ở Hải Dương sau sáu năm trốn tránh đã bị bắt ở chợ Thượng Lâm - Lục Ngạn giữa lúc hai thầy trò đang giả làm nhà sư (Hà thành ngọ báo, 1935).
Có khi là thông tin đưa ngay ở trang nhất về trận mưa bão khủng khiếp cách ngày nay ngót một trăm năm gây ngập lụt nặng nề suốt từ phố tỉnh đến miền cửa rừng Tây Yên Tử, trong đó có nêu rõ số liệu thiệt hại, công việc cứu hộ (kèm hai ảnh minh chứng): “Vì trời mưa luôn trong 2 ngày 3 đêm nên đến hôm 25 Septembre 1927 (25/9/1927), nước tràn vào phố, thành ra lụt rất to, có lẽ từ xưa đến nay chưa từng có trận lụt nào to như thế. Nước ngập trong phố sâu chừng 1m30, các công sở, các nhà buôn bán cùng các tư gia, nước ngập tới lưng chừng nhà, thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể được. Nước lên rất chóng, trong 20 phút có thể lên được 10 phân tây… Về vùng Lục Nam, làng Cương Sơn ở vào chỗ thấp nhất cho nên khi nước lên ngập hết cả các lối ra vào, thành thử trong làng Cương Sơn, tất cả già trẻ độ 500 người không có nơi nương náu, tình cảnh thật là nheo nhóc! Còn các giống súc vật như trâu, bò, lợn, gà thì chết không biết bao nhiêu mà kể. May thay, được quan Giám binh Carega thân hành bơi một chiếc thuyền nhỏ đi bắt các thuyền nhớn trong vùng đó đến làng Cương Sơn chở cho 500 người bị nạn ra khỏi nơi nguy hiểm và đã đưa họ đến tạm ngụ tại nhà hộ sinh rồi. Phúc đức quá! May hôm nay nước đã rút, xét ra thì các nhà buôn thiệt hại rất nhiều hàng hóa, giá gạo mấy hôm nay mỗi tạ đã cao độ 1p50 rồi...” (Hà thành ngọ báo, 1927).
| Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, vùng Tây Yên Tử được xem là nơi sơn cùng thủy tận, dân cư thưa vắng, dân trí thấp, đời sống khó khăn, vậy mà cũng ít nhiều được nhắc nhớ trên các phương tiện truyền thông báo chí. Việc khai thác thông tin về vùng Tây Yên Tử cũng như toàn cảnh tri thức về tỉnh Bắc Ninh sẽ có ý nghĩa trong việc xây dựng địa chí, địa phương học và góp phần bổ sung, kết nối văn hóa Bắc Ninh giai đoạn giao thời cận - hiện đại. |
Có khi thông tin về vụ hỏa tai dữ dội ở phố Lục Nam khi một thời phố chợ toàn nhà mái lá và cũng là lời cảnh tỉnh về hỏa tai: “Nhà tên Chung ở phố Lục Nam, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, vì hốt gio đổ đi, vô ý thế nào trong đống gio còn than lửa, nên bén vào vách bếp cháy lên mà không biết. Mãi đến khi lửa đã phát to, bấy giờ người nhà tri hô, hàng phố phó cứu thì đã muộn. Gặp lúc gió bắc to và kỳ nắng hanh nên lửa bốc cháy càng dữ, tràn lan mãi ra. Cháy lâu đến hơn 2 giờ mới dập tắt được, thì đã phải hơn 30 nóc nhà thành đống gio tàn. Trong số đó, có cả hai cái nhà ngói… Thực là vụ cháy dữ dội ở phố Lục Nam xưa nay chưa từng có. Quan huyện sở tại còn đang mở cuộc điều tra. Mong các nhà hằng tâm trợ giúp cho các người bị nạn” (Trung hòa nhật báo, 1936)…
Rồi đến chuyện chiếc tầu nhà binh bị mắc cạn vì thiếu kinh nghiệm và chủ quan khi ngược sông Lục Nam giữa mùa nước nổi: “Hôm 16 tháng Juillet 1934 (16/7/1934), có một chiếc tầu nhà binh chở các quan binh và một toán lính lên đồn Đầm để coi sóc. Vì nước lên to, tràn cả vào ruộng, lại không thuộc lòng sông, nên chiếc tầu chạy vào đồng rồi mà vẫn chưa biết. Chính là chạy vào đồng điền làng Cổ Mân, tổng Bắc Lũng, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang). Trên tầu lại còn vận tải nhiều đồ đạc, tầu nặng không lùi ra ngay được, nên có mướn ba chiếc thuyền ván chở các đồ đạc cho tầu được nhẹ. Mãi tới hôm 18 Juillet (18/7), tầu mới lùi ra được” (Trung hòa nhật báo, 1934)…
Về dấu ấn văn hóa, văn nghệ liên quan tới vùng Tây Yên Tử giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX thấy có ghi chép của Nhật Nham Trịnh Như Tấu về phế tích thành nhà Mạc, dã sử khởi nghĩa Cai Vàng và sưu tầm thêm một số câu hát dân gian, ca dao, dân ca với “Tìm xuân miền rừng núi: Hát lượn”, “Tiếng vang của non cao rừng thẳm qua ca dao, tục ngữ” (1942)… Gần cận hơn nữa là những trang viết của nữ sĩ Tương Phố Đỗ Thị Đàm (1896 - 1973), Bùi Huy Phồn (1911 - 1940) đều cùng sinh ở đồn Đầm (nay thuộc xã Phượng Sơn), trong đó đáng chú ý có bài thơ Bùi Huy Phồn trực diện viết về quê sinh:
Hai mươi năm trước buổi giao thời,
Phong cảnh phố Đầm ngẫm chửa nguôi.
Phố xá rộn ràng Tây đá lính,
Ngàn dâu khúc khích đĩ ve bồi.
Đỉnh đồi mây đuổi trăng thua chạy,
Mặt sóng thuyền neo lửa tập bơi.
Bỗng chó xua ma gà rủa cáo,
Đầu làng tiếng khóc mẹ sinh tôi.
(Tiểu thuyết thứ Năm, 1935)
*
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, vùng Tây Yên Tử được xem là nơi sơn cùng thủy tận, dân cư thưa vắng, dân trí thấp, đời sống khó khăn, vậy mà cũng ít nhiều được nhắc nhớ trên các phương tiện truyền thông báo chí. Việc khai thác thông tin về vùng Tây Yên Tử cũng như toàn cảnh tri thức về tỉnh Bắc Ninh sẽ có ý nghĩa trong việc xây dựng địa chí, địa phương học và góp phần bổ sung, kết nối văn hóa Bắc Ninh giai đoạn giao thời cận - hiện đại.
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)