Vấn vương khói bếp
BẮC NINH - Mỗi lần thấy khói lam chiều bay lên, tôi lại nhớ bà nội. Hình bóng bà gắn liền với gian bếp nhỏ, với những củ khoai nướng nóng hổi, nồi cơm dẻo thơm và những nắm cháy vàng thơm mùi muối vừng, vương chút vị cay của khói bếp.
Khi tôi bắt đầu biết quan sát và ghi nhớ thế giới xung quanh, bà nội đã già. Ở tuổi ngoài 60, lưng bà hơi còng, quanh năm suốt tháng bà mặc quần áo màu nâu. Để các con yên tâm công tác, một tay bà vừa trông nom đàn cháu nhỏ vừa quán xuyến việc nhà, từ cơm nước ngày ba bữa cho cả gia đình lớn đến việc chăm lo đàn gà, đàn lợn. Phần lớn thời gian trong ngày của bà gắn liền với gian bếp nhỏ.
![]() |
|
Ảnh minh họa. |
Gian bếp của bà luôn có một sức hút kỳ lạ với chị em tôi. Mỗi buổi trưa, buổi chiều sau khi đi học về hoặc sau khi chạy nhảy khắp xóm, chúng tôi sẽ chạy vào bếp tìm đồ ăn lót dạ, khi thì củ khoai lang, củ sắn bà nướng sẵn, khi thì những củ khoai bi (khoai nhỏ, chuyên dùng nấu cám cho lợn) được vớt từ nồi cám lợn đang sôi sùng sục, mang ra bể nước rửa sạch rồi bóc vỏ ăn ngon lành.
Mùa đông, căn bếp của bà là địa điểm yêu thích của chị em tôi mỗi tối. Sau khi làm xong bài tập, chúng tôi ngồi trên chiếc ổ rơm bện dày được đặt bên bếp lửa, vừa sưởi ấm vừa chăm chú nghe bà kể những câu chuyện cổ tích, chuyện ngày xưa. Có những khi chúng tôi chơi tam cúc, ai thua sẽ phải quệt nhọ nồi vào mặt. Mỗi khi có người bị quệt nhọ nồi, chúng tôi lại ré lên cười. Bà cũng cười theo nhưng vẫn đều tay đưa rơm, rẽ tro trong bếp.
Những buổi không phải đi học, tôi hay vào bếp xem bà nấu cơm. Bà vừa làm vừa hướng dẫn cho tôi từ cách đưa rơm vào bếp đến cách cời tro than sao cho đúng để tro không bay vào thức ăn; rồi cách vặn mồi rơm để vần nồi cơm cho có cháy, nồi khoai hầm làm sao cho ra mật… Ngọn lửa nhảy nhót trên bếp khi to, khi nhỏ theo nhịp tay của bà. Chiếc que rẽ bằng tre già nhẵn bóng khẽ đưa ngang, đám tro bếp được gạt sang một bên, tay trái bà khẽ đẩy thêm rơm, ngọn lửa bùng lên sáng hơn, những lưỡi lửa nhảy múa, liếm vào thành chiếc nồi gang như đang nô đùa.
Khi nồi cơm đã sôi sùng sục, tỏa mùi thơm, tay cầm que rẽ của bà khẽ đè trên đầu những ngọn rơm đang cháy rồi gạt nhẹ, lửa nhỏ dần. Những lúc như vậy bà hay ngâm nga “Chồng giận thì vợ bớt lời/Cơm sôi nhỏ lửa suốt đời không khê”. Khi ấy tôi còn bé, chẳng hiểu gì và cũng chẳng nghĩ gì. Khê làm sao được! Những hạt gạo qua tay bà thành những hạt cơm rất ngon, đặc biệt là đám cháy cơm vàng ruộm mê ly. Sau khi rút bớt lửa ở đáy nồi, để liu riu một lúc, bà nhấc nồi ra khỏi kiềng, đặt lên đám tro bếp nóng, khẽ vặn một vòng rơm quấn kín quanh thành nồi rồi châm lửa. Sau đó, bà trải lớp trấu mỏng lên trên để chúng âm ỉ cháy làm cho cơm chín đều từ xung quanh, tạo thành lớp cháy vàng ươm từ thành nồi xuống đáy.
Mỗi khi mở vung nồi cơm, sau khi xới cơm ra bát cho vơi bớt, bà lấy đũa cả khẽ khêu những miếng cháy ra chiếc mâm đồng, rắc một lượt muối vừng lên đó rồi quấn tròn lại, nắm vào thành từng nắm nhỏ. Chị em tôi mỗi đứa một nắm hớn hở ăn, ngày nào cũng ăn mà vẫn thấy ngon. Cậu em út của tôi có lẽ là đứa mê cháy nhất. Tôi không nhớ rõ khi ấy nó mấy tuổi nhưng chỉ nhớ nó vẫn còn nói ngọng. Mẹ bảo nó còn nhỏ chỉ nên ăn ít cháy thôi kẻo hỏng dạ dày nhưng mỗi lần cầm nắm cháy nhỏ là nó khóc ngút ngoát, vừa khóc, vừa chỉ vào bụng tay, đòi “bằng này cơ”. Bà đành nghĩ cách nắm cho nó nắm cháy dài nhưng nhỏ, bên trong độn thêm cơm.
Nhớ nhất là những ngày mùa đông buốt giá, khi tan học, đạp xe về nhà, từ đằng xa chỉ cần nhìn thấy làn khói xanh nhạt vấn vít bay lên trên mái bếp là lòng tôi đã trào dâng một cảm giác thân thương, ấm áp lạ lùng. Phía sau làn khói ấy, bà đang cặm cụi bên bếp lửa, sẵn sàng nồi cơm canh nóng hổi để lót dạ cho những đứa cháu đói mềm sau giờ học. Ngồi trên ổ rơm bên bếp lửa, vừa ăn khoai nướng vừa xem bà nấu cơm, cái lạnh trong người dường như được xua tan nhanh chóng.
Không chỉ tuổi thơ tôi mà cả cuộc đời bố tôi cũng được sưởi ấm từ chính căn bếp ấy. Trong những câu chuyện gia đình, bố tôi vẫn thường kể về thời đi học gian khó của mình. Ngày ấy, trường học cách nhà hàng chục cây số, bố phải đi bộ từ lúc gà gáy tơ mơ mới kịp giờ học. Để có được củ khoai luộc hay nắm cơm cho bố mang đi, bà nội đã phải thức dậy từ rất sớm, cặm cụi nhóm bếp thổi nấu dù ngày đông cũng như ngày hè, nắng cũng như mưa. Bố bảo, nhiều lúc học hành vất vả, đường sá xa xôi làm bố nản chí muốn buông xuôi nhưng cứ nghĩ đến hình ảnh bà nội thức khuya dậy sớm, cặm cụi bên bếp lửa, lòng bố lại tràn đầy quyết tâm để bước tiếp.
Lúc còn bé, tâm trí ngây thơ của tôi thường xuyên phải trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm đầy mâu thuẫn. Một mặt, tôi khao khát mình lớn thật nhanh, có đôi tay đủ cứng cáp, đôi chân đủ vững vàng để gánh vác đỡ đần cho bà, để bà không còn phải vất vả nuôi lợn, chăn gà, cơm nước. Nhưng mặt khác, một nỗi sợ mơ hồ luôn thường trực trong lòng. Tôi lo rằng nếu mình lớn lên, đồng nghĩa với việc bà sẽ già đi nhanh chóng, và một ngày nào đó bà sẽ không còn ở bên tôi nữa.
Gian bếp của tôi giờ đây không có kiềng ba chân, không có thùng trấu, ổ rơm hay nồi gang, nồi đất. Bếp từ nấu rất nhanh và không có khói. Nồi cơm cao tần kiểu mới chỉ cần một vài nút bấm là xong, muốn cơm chín nục có chín nục, muốn cơm cháy có cơm cháy. Thế nhưng, vị cháy cơm hiện tại không thể nào ngon bằng thời xưa cũ. Có lẽ, không phải do từng loại gạo hay do lượng nhiệt mà do thiếu vị của khói bếp khẽ len vào giữa những hạt cơm và hơn cả là thiếu hơi ấm từ đôi bàn tay bà nội thân yêu.
Mỗi lần chợt nhìn thấy làn khói bay lên đâu đó, tôi lại thèm được trở về ngày thơ trẻ, được nằm trên ổ rơm nghe bà kể chuyện, để đầu tóc áo quần vương mùi khói bếp. Khói từ những sợi rơm vàng có mùi thơm rất nhẹ. Khói từ lá cây bạch đàn vừa phơi nỏ đậm mùi tinh dầu ấm nóng. Khói từ thanh củi xoan chưa khô kiệt có mùi hăng hắc. Khói bốc lên từ thân cây đậu tương, cây vừng còn vương vài hạt lép thì bừng lên mùi no ấm.
Bắc Ninh














Ý kiến bạn đọc (0)