Bắc Ninh: Khai thác nguồn nước gắn với phát triển bền vững
BẮC NINH - Nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, kinh doanh và đời sống ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên này. Tỉnh Bắc Ninh đang tăng cường cấp phép gắn với kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm quản lý hiệu quả nguồn nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Kiểm soát chặt từ khâu cấp phép
Nguồn nước là một trong những yếu tố đầu vào thiết yếu của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và đời sống dân cư. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhu cầu sử dụng nước trên địa bàn tỉnh ngày càng lớn, đòi hỏi công tác quản lý phải được thực hiện chặt chẽ ngay từ khâu cấp phép đến giám sát quá trình khai thác, sử dụng.
![]() |
|
Nhà máy nước Bắc Giang (Công ty cổ phần Nước sạch Bắc Giang). |
Hiện toàn tỉnh có hệ thống hạ tầng thủy lợi, cấp nước khá đồng bộ với 7 hồ chứa lớn, 274 hồ chứa, 203 đập dâng, 1.405 trạm bơm cùng hơn 12.282 km kênh tưới, tiêu, phục vụ sản xuất trên 200 nghìn ha cây trồng mỗi năm. Toàn tỉnh có 29 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế hơn 344 nghìn m³/ngày đêm; tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống tập trung đạt 86%.
Để bảo đảm khai thác hợp lý, đến nay toàn tỉnh có 172 công trình khai thác nước mặt và nước dưới đất còn hiệu lực giấy phép, trong đó 79 công trình khai thác nước mặt, 93 công trình khai thác nước dưới đất. Từ đầu năm đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp nhận 29 hồ sơ đề nghị cấp phép, hoàn thành thẩm định và cấp phép 18 hồ sơ. Việc cấp phép được thực hiện trên cơ sở đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nước, nhu cầu sử dụng, đồng thời gắn với các yêu cầu về bảo vệ nguồn nước và trách nhiệm của đơn vị khai thác.
Mới đây, UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác nước mặt cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Dầu thực vật Dabaco. Theo đó, doanh nghiệp được khai thác nước mặt sông Đuống tại xã Tân Chi với lưu lượng 1.500 m³/ngày đêm, phục vụ cấp nước sản xuất và sinh hoạt; thời hạn giấy phép 5 năm. Đi cùng quyền khai thác là những yêu cầu cụ thể đối với doanh nghiệp như lắp đặt thiết bị đo đạc, giám sát quá trình khai thác; thực hiện quan trắc các thông số theo quy định; bảo vệ nguồn nước khu vực lấy nước và chủ động phương án ứng phó, khắc phục sự cố. Trường hợp nguồn nước tại vị trí khai thác không đủ để cấp cho các mục đích sử dụng hoặc xảy ra sự cố công trình, doanh nghiệp phải dừng khai thác và báo cáo cơ quan chức năng để xử lý.
Ở lĩnh vực cấp nước sinh hoạt, việc cấp phép cũng được gắn với nhu cầu thực tế của người dân. UBND tỉnh đã cấp giấy phép khai thác nước dưới đất cho Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Tân Phát để cung cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư Tân Sơn, xã Tân Sơn với lưu lượng 260 m³/ngày đêm; dự kiến chính thức khai thác từ ngày 1/10/2026. Ông Vi Văn An, Chủ tịch UBND xã Tân Sơn cho biết: Khi công trình đi vào hoạt động, người dân sẽ có thêm nguồn cấp nước sạch ổn định, giảm phụ thuộc vào các nguồn nước nhỏ lẻ, thuận lợi cho phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Giám sát bằng dữ liệu, công nghệ
Để bảo đảm việc khai thác đúng quy định, công tác kiểm tra, hậu kiểm được ngành chức năng chú trọng. Từ đầu năm 2026 đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức kiểm tra tại 2 đơn vị; qua kiểm tra, các đơn vị cơ bản chấp hành nghiêm quy định pháp luật và nội dung giấy phép được cấp.
| Tổng lượng nước khai thác trên địa bàn tỉnh hiện đạt khoảng 382.000 m³/ngày đêm, trong đó nước mặt chiếm 380.800 m³/ngày đêm, nước ngầm khoảng 1.200 m³/ngày đêm. |
Cùng với đó là ứng dụng công nghệ trong quản lý thông qua Hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Hệ thống cho phép cơ quan chuyên môn theo dõi trực tuyến tình trạng hoạt động của các công trình đã được cấp phép, cập nhật lưu lượng và thông tin khai thác của từng đơn vị, đồng thời quản lý cả những công trình đã dừng hoạt động. Việc cập nhật dữ liệu thường xuyên giúp cơ quan quản lý kịp thời nhận diện những bất thường trong quá trình vận hành, hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra và từng bước hiện đại hóa quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước.
Tại các doanh nghiệp, đầu tư hệ thống quan trắc tự động cũng đang trở thành giải pháp quan trọng. Công ty cổ phần Nước sạch Bắc Giang đã đầu tư khoảng 800 triệu đồng lắp đặt hệ thống quan trắc tự động tại trạm cấp nước thô lấy nước từ sông Thương. Hệ thống theo dõi liên tục lưu lượng khai thác, tình trạng vận hành và truyền dữ liệu theo thời gian thực về cơ quan quản lý theo quy định. Hiện doanh nghiệp khai thác khoảng 35.000 m³ nước/ngày đêm, phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh dịch vụ.
Ông Đặng Quốc Trung, Quản đốc Nhà máy nước Bắc Giang, cho biết: “Việc đầu tư hệ thống quan trắc tự động giúp doanh nghiệp theo dõi, kiểm soát quá trình khai thác, kịp thời xử lý những bất thường trong vận hành và thực hiện đầy đủ các quy định của giấy phép. Dữ liệu được truyền về cơ quan quản lý, tạo điều kiện giám sát hoạt động khai thác từ xa”.
Thống kê của ngành chuyên môn, tổng lượng nước khai thác trên địa bàn tỉnh hiện đạt khoảng 382.000 m³/ngày đêm, trong đó nước mặt chiếm 380.800 m³/ngày đêm, nước dưới đất khoảng 1.200 m³/ngày đêm. Quy mô khai thác lớn cho thấy yêu cầu bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn nước ngày càng cấp thiết. Thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, điều tra, đánh giá nguồn nước; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hệ thống giám sát, quan trắc tự động để quản lý chặt hoạt động khai thác ngay từ cơ sở. Đối với doanh nghiệp khai thác, cấp nước, yêu cầu đặt ra không chỉ là tuân thủ các điều kiện trong giấy phép mà còn phải chủ động đổi mới công nghệ, hiện đại hóa quan trắc, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)