Giảm nghèo bền vững: Từ chỉ tiêu đến chất lượng cuộc sống
BẮC NINH - Không chỉ dừng lại ở việc kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thống kê, những năm qua, Bắc Ninh luôn chú trọng giải pháp nhằm thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Bước sang giai đoạn mới, những thay đổi về tiêu chí đo lường đặt ra thách thức không nhỏ với nhiệm vụ quan trọng này, đòi hỏi các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh triển khai các giải pháp đồng bộ, tạo sinh kế ổn định để người nghèo tự lực vươn lên.
Tạo sinh kế, tăng thu nhập
Theo Quyết định phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 của UBND tỉnh, nếu áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh còn hơn 4,8 nghìn hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,56%; hơn 13,5 nghìn hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,58%. Đây là kết quả cho thấy sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cùng sự chung tay của cộng đồng dân cư và nỗ lực vươn lên của người dân trong suốt thời gian qua. Cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Ninh xác định rõ giảm nghèo chỉ thực sự hiệu quả khi nhận thức của người nghèo được nâng lên, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước dần bị đẩy lùi. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động người dân được quan tâm triển khai, đẩy mạnh.
![]() |
|
Từ nguồn vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, hạ tầng giao thông tại xã Đồng Kỳ được đầu tư kiên cố. |
Cùng đó, tỉnh chú trọng huy động, phân bổ nguồn lực theo hướng công khai, minh bạch, đúng đối tượng; đẩy mạnh xã hội hóa, phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể trong hỗ trợ sinh kế. Việc quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát đã góp phần đưa các chính sách giảm nghèo đến đúng người, đúng nhu cầu, tạo niềm tin của Nhân dân và nền tảng để triển khai các giải pháp giảm nghèo bền vững hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 2021-2025, nguồn lực để triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh là 950 tỷ đồng; trong đó ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, ngân sách địa phương cùng tham gia bổ sung. Nguồn lực được phân bổ theo nguyên tắc đúng đối tượng, đúng địa bàn, tập trung cho đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.
Toàn tỉnh đã triển khai hơn 150 mô hình hỗ trợ sản xuất, thu hút gần 2 nghìn hộ tham gia. Các mô hình tập trung vào chăn nuôi, trồng trọt, phát triển ngành nghề nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập bền vững. Riêng khu vực các xã thuộc huyện Sơn Động cũ - nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh được ưu tiên nguồn lực lớn để đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông, y tế, thủy lợi, sửa chữa các công trình dân sinh và xây dựng những mô hình sinh kế phù hợp, tạo nền tảng cho phát triển lâu dài và thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Bám sát các tiêu chí giảm nghèo đa chiều, các địa phương tập trung hỗ trợ hộ nghèo theo từng “chiều” thiếu hụt, từ nhà ở, y tế, giáo dục đến nước sạch, vệ sinh và thông tin. Nhiều hộ được hỗ trợ bò sinh sản, cây, con giống, phương tiện sản xuất, qua đó từng bước tạo sinh kế ổn định. Như gia đình chị Võ Thị Nhung ở bản Đồng Tân, xã Đồng Kỳ từ hộ cận nghèo đã vươn lên thoát nghèo. Chị Nhung kể: “Từ các chương trình của Nhà nước, cuối năm 2023, tôi được hỗ trợ một con bò giống và máy làm giò chả. Đến nay, bò đã đẻ bê; bản thân tôi cũng tranh thủ bán thêm giò, chả để thêm thu nhập trang trải cuộc sống. Nhờ vậy kinh tế khấm khá hơn, từng bước thoát nghèo bền vững”.
Ưu tiên vùng khó
Khi áp dụng các tiêu chí của chuẩn nghèo giai đoạn 2026-2030, tổng số hộ nghèo toàn tỉnh là hơn 7,7 nghìn hộ, chiếm tỷ lệ 0,91%; tăng khoảng 3 nghìn hộ và tăng 0,45% so với giai đoạn trước. Số hộ cận nghèo là hơn 13,5 nghìn hộ, chiếm tỷ lệ 1,58%, tương đương giai đoạn 2021-2025. Việc tăng số hộ nghèo không phản ánh đời sống người dân đi xuống mà chủ yếu do chuẩn nghèo mới tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng các chỉ số đánh giá mức độ thiếu hụt. Tuy vậy, với số hộ nghèo tăng lên sau rà soát cũng sẽ đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho việc thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo trong giai đoạn 2026-2030.
Thực tế cho thấy, số hộ nghèo, cận nghèo còn tập trung cao ở một số xã miền núi, vùng khó khăn như xã: Vân Sơn, An Lạc, Sa Lý. Trong khi đó, toàn tỉnh đã có những địa phương không còn hộ nghèo như phường Kinh Bắc, phường Quế Võ, phường Phương Liễu, phường Ninh Xá. Sự chênh lệch này cho thấy việc phân bổ nguồn lực vẫn rất cần thực hiện trên nguyên tắc tập trung, tránh dàn trải, sát thực tiễn từng địa bàn, từng nhóm đối tượng; lồng ghép các nguồn lực trên cơ sở ưu tiên hỗ trợ theo mức độ khó khăn.
Sau sáp nhập, xã Vân Sơn có hơn 6 nghìn nhân khẩu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 97,5%, chủ yếu là Tày, Dao. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào rừng keo, bạch đàn và chăn nuôi nhỏ lẻ; thu ngân sách hằng năm chưa đến 100 triệu đồng. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2026-2030, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã là 10,31%, hộ cận nghèo là 9,9%. Để giảm nghèo hiệu quả, xã phân công, gắn trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong thực hiện các mục tiêu giảm nghèo theo địa bàn phụ trách, từ khâu rà soát hằng năm, nắm tình hình đời sống đến đôn đốc, hướng dẫn việc sử dụng nguồn hỗ trợ.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 đề ra mục tiêu đến hết năm 2027, toàn tỉnh không còn hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025). Phát huy kết quả đạt được, các cấp, ngành, địa phương cần phân bổ hợp lý các nguồn lực, ưu tiên vùng khó. Thường xuyên khảo sát, hỗ trợ về giống, vốn, kỹ thuật sản xuất để nhân rộng các mô hình giảm nghèo. Quan tâm giúp người nghèo tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ xã hội cơ bản, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững và đa chiều.
Bắc Ninh









.jpg)






Ý kiến bạn đọc (0)