Khoảng trời tháng Tám
Cứ mỗi độ tháng Tám bước qua ngưỡng cửa, khi làn gió heo may đầu mùa khẽ lùa qua vòm lá xà cừ cổ thụ, lòng tôi lại trôi dạt về một miền ký ức vẹn nguyên và linh thiêng. Ấy là mùa thu trầm hùng của lịch sử, gõ nhịp vào tâm khảm qua từng trang sách cũ và lời kể rì rầm của bà nội bên chiếc chõng tre năm nào.
![]() |
|
Minh họa: Hà Huy Chương. |
Ngày tôi còn là học sinh tiểu học, mùa thu trong tôi là hai khoảng trời đan quyện. Một khoảng trời rộng mở ngoài kia với nắng hanh hao cùng hoa cúc dại ven đường, và một khoảng trời nằm ngoan trong những bài học lịch sử. Tôi nhớ như in tấm ảnh đen trắng trên giấy đã ngả vàng của cuốn sách giáo khoa: Biển người cuồn cuộn đổ về Quảng trường Nhà hát Lớn, những cánh tay giơ cao, những lá cờ đỏ sao vàng rợp trời reo vui trong gió thu năm 1945. Bài học năm ấy, với một đứa trẻ, vừa thiêng liêng vừa xa xăm như một huyền thoại. Nhưng huyền thoại ấy đã thực sự bước ra, mang hơi thở nóng hổi khi tôi ngồi trong lòng bà, nghe bà kể chuyện.
Bà nội tôi khi ấy tuổi đã cao. Đôi mắt bà đã mờ đục, gương mặt chằng chịt những nếp nhăn. Cứ mỗi chiều thu, khi dắt tôi ra ngồi dưới bóng cây râm mát trước hiên nhà, nhìn những chiếc lá bàng đỏ thẫm chao nghiêng rồi đáp nhẹ xuống mặt đất, bà lại cất giọng chậm rãi, trầm êm. "Bà còn nhớ rõ hồi ấy..." - bà thường bắt đầu câu chuyện bằng một lời mở đầu nhẹ tênh như thế...
Năm ấy, bà mới chỉ là thiếu nữ mười lăm tuổi ở vùng quê ven sông. Tháng Tám năm 1945 đối với làng quê của bà là một cuộc hồi sinh bước ra từ tro tàn của trận đói thảm khốc. Người dân quê năm ấy, những nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, sống trong tăm tối và xiềng xích, bỗng một ngày nghe tiếng trống vang lên từ phía đình làng. Bà kể, ngày khởi nghĩa, trời thu trong veo không một gợn mây. Từ các ngả đường, hàng ngàn con người áo vải, chân trần, tay cầm gậy gộc, giáo mác, tay giương cao lá cờ đỏ sao vàng tự may. Tiếng reo hò "Việt Minh! Việt Minh!" rung chuyển cả một vùng bãi bồi ven sông. Bà cùng đám thiếu niên trong làng chạy theo đoàn người, ngực phập phồng những nhịp đập chưa từng có trong đời, nhịp đập của sự tự do.
"Lần đầu tiên trong đời, bà thấy lòng hừng hực khí thế tới vậy", bà chớp chớp mắt, lấy vạt áo nâu chấm nhẹ giọt nước mắt lăn qua vệt chân chim. "Lúc ấy, chẳng ai thấy đói, chẳng ai thấy sợ nữa. Đất trời như rộng ra, xô đi hết những u tối bao năm qua. Người ta ôm lấy nhau mà khóc, mà cười trong nắng thu".
Lịch sử qua giọng nói hồn hậu, trầm tĩnh của bà là ánh mắt rạng rỡ của ông cụ xóm trên khi được cầm cờ, là vị ngọt của miếng bánh đa chia nhau trên đường đi biểu tình, là thứ ánh sáng rực rỡ soi tỏ những gương mặt hốc hác vì lam lũ nhưng bừng lên niềm tin bất diệt...
Nhờ có lời kể của bà, từng trang sách lịch sử trong tôi cứ thế mà cựa mình, sống dậy. Tôi nhận ra rằng, mùa thu lịch sử ấy không phải là điều gì xa xôi trong dĩ vãng, mà nó vẫn đang chảy trong huyết quản của thế hệ hôm nay. Nó nằm trong sắc đỏ của những chùm phượng vĩ cuối mùa, trong màu cờ đỏ sao vàng ngợp trời treo trước mỗi hiên nhà dịp Tết Độc lập về, và trong nụ cười bình yên của lũ trẻ đang tung tăng trước ngày khai giảng.
Bây giờ, tháng Tám lại về trên khắp các nẻo đường. Phố xá thênh thang rực rỡ cờ hoa, tiếng nhạc cách mạng hào hùng vang lên từ những chiếc loa nơi góc phố. Bà tôi nay đã về miền mây trắng, nhưng thỉnh thoảng nhìn ra khoảng sân ngập nắng thu, tôi vẫn như thấy lại đôi bàn tay gầy guộc của bà năm xưa, vẫn khẽ run run khi bên tai vang lên bài hát “Tiến quân ca” phát ra từ tiếng loa truyền thanh của xã.
Đứng bên khung cửa sổ ngợp gió heo may, lật lại trang sách cũ năm nào, tôi chợt thấy lòng mình trào dâng một niềm biết ơn sâu sắc. Mùa thu tháng Tám, mùa thu của đất nước, mùa thu của gia đình và mùa thu trong ký ức của bà, mãi mãi là khoảng trời thiêng liêng nhất trong tôi. Nó nhắc nhở đứa trẻ đã lớn như tôi về cái giá của hòa bình, về cội nguồn gian lao mà anh dũng, để biết sống đàng hoàng, tử tế và yêu thương hơn mảnh đất quê hương.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)