Những điểm mới trong Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Ngày 17/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 212-QĐ/TW), thay thế Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6/7/2022 và Quy định số 264-QĐ/TW ngày 14/2/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW.
Việc ban hành Quy định số 212-QĐ/TW là bước tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên, bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của Đảng, đồng thời đáp ứng những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
![]() |
|
Ủy ban Kiểm tra Trung ương tổ chức hội nghị trực tuyến quán triệt các văn bản mới về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. |
Nhìn tổng thể, Quy định số 212-QĐ/TW vừa kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định số 69-QĐ/ TW và Quy định số 264-QĐ/TW, vừa sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng. Điểm nổi bật không chỉ nằm ở việc bổ sung các hành vi vi phạm, mà còn ở việc làm rõ hơn trách nhiệm, nguyên tắc và căn cứ xử lý; khắc phục những khoảng trống có thể phát sinh khi tổ chức bộ máy thay đổi; cập nhật các lĩnh vực mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Qua đó, kỷ luật của Đảng tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nghiêm minh, chính xác, kịp thời, đồng thời bảo đảm khách quan, công bằng, giáo dục và phòng ngừa.
Khi nhận diện “điểm mới”, cần phân biệt rõ ba cấp độ: Nội dung mới hoàn toàn; nội dung kế thừa nhưng được mở rộng, bổ sung; và nội dung được cụ thể hóa, hệ thống hóa lại để thuận lợi hơn trong áp dụng. Đáng chú ý, tinh thần xuyên suốt của Quy định là xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng, đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn. Vì vậy, kỷ luật không chỉ nhằm xử lý hành vi đã xảy ra, mà còn hướng mạnh tới cảnh tỉnh, phòng ngừa, hoàn thiện cơ chế và tạo môi trường để tổ chức, cán bộ thực hiện nhiệm vụ đúng trách nhiệm, hiệu quả hơn.
Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không để "khoảng trống trách nhiệm"
Qua thực tiễn thực hiện Quy định số 69-QĐ/TW và Quy định số 264-QĐ/TW, nhiều nội dung đã phát huy hiệu quả, tạo cơ sở quan trọng để xem xét, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tuy nhiên, tình hình mới đặt ra những yêu cầu mới. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy làm xuất hiện các trường hợp tổ chức đảng kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất.
Quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý cùng sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm xuất hiện những dạng hành vi, phương thức và không gian vi phạm mới. Yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng đòi hỏi trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu, phải được xác định rõ hơn.
Trong bối cảnh đó, Quy định số 212-QĐ/TW được ban hành không phải là sự thay đổi tách rời những quy định trước đây, mà là sự kế thừa, cập nhật và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Đây là cách tiếp cận cần được quán triệt khi nhận diện những điểm mới của Quy định: Cái mới phải được đặt trong sự vận động liên tục của hệ thống quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Từ góc độ rộng hơn, việc hoàn thiện các quy định về kỷ luật cũng cho thấy công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật ngày càng được đặt trong tổng thể đổi mới phương thức lãnh đạo, kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Kỷ luật nghiêm minh phải đồng thời góp phần phòng ngừa vi phạm, nâng cao trách nhiệm, bảo vệ người làm đúng và thúc đẩy việc thực hiện chủ trương, nghị quyết đi vào thực chất.
Đối chiếu với Quy định số 69-QĐ/TW cho thấy, đây không phải là việc xác lập lại hoàn toàn đối tượng áp dụng, mà là sự kế thừa và mở rộng có mục tiêu. Quy định số 69-QĐ/TW đã áp dụng đối với tổ chức đảng hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập; đồng thời áp dụng với một số trường hợp đảng viên đặc thù.
Quy định số 212-QĐ/TW tiếp tục kế thừa nền tảng đó, đồng thời bổ sung, làm rõ các trường hợp tổ chức đảng “kết thúc hoạt động”, “hợp nhất” và mở rộng phạm vi đối với “đảng viên ở nước ngoài”. Quy định này có ý nghĩa trực tiếp trong điều kiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang được tiếp tục sắp xếp, đổi mới.
Tổ chức có thể thay đổi mô hình, tên gọi hoặc kết thúc hoạt động, nhưng trách nhiệm đối với vi phạm đã xảy ra không vì thế mà mất đi. Việc quy định rõ đối tượng áp dụng góp phần bảo đảm tính liên tục của trách nhiệm, hạn chế việc lợi dụng thay đổi tổ chức hoặc vị trí công tác để né tránh xem xét, xử lý vi phạm. Có thể nói, đây là bước hoàn thiện quan trọng nhằm bảo đảm nguyên tắc: Ở đâu có quyền hạn, trách nhiệm và vi phạm thì ở đó phải có cơ chế xem xét trách nhiệm phù hợp.
Quy định số 212-QĐ/TW đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm xử lý khách quan, công bằng. Theo đó, tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc xử lý kỷ luật trên cơ sở xem xét đầy đủ nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thái độ tự phê bình và kết quả khắc phục. Cách tiếp cận này bảo đảm kỷ luật nghiêm nhưng không cơ học; xử lý đúng tổ chức, đúng người, đúng hành vi và tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm.
Đáng chú ý, đối chiếu với Quy định số 69-QĐ/TW cho thấy điểm mới trực tiếp của Quy định số 212-QĐ/TW là bổ sung rõ trách nhiệm tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai; đồng thời tiếp tục yêu cầu xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan, sai. Nội dung này thể hiện yêu cầu rất cao về tính chính xác và trách nhiệm trong thi hành kỷ luật Đảng: Kỷ luật phải nghiêm minh đối với vi phạm, nhưng chính cơ quan thực hiện quyền kỷ luật cũng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Điều đó có ý nghĩa cả về nguyên tắc và thực tiễn.
Sức mạnh của kỷ luật Đảng không chỉ được thể hiện ở tính nghiêm khắc mà còn ở sự công minh, chính xác và khả năng tự sửa chữa khi có sai sót. Quy định rõ trách nhiệm khắc phục đối với quyết định oan, sai góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức đảng, đảng viên; đồng thời nâng cao trách nhiệm, chất lượng kiểm tra, thẩm tra, xác minh và quyết định thi hành kỷ luật.
Cập nhật kịp thời các vi phạm trong khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo
Một trong những điểm mới nổi bật của Quy định số 212-QĐ/TW là thiết lập nhóm quy định riêng về vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bao quát cả dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo.
Đối với tổ chức đảng, xác định trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, xử lý vi phạm thuộc lĩnh vực này. Đối với đảng viên, nhận diện nhiều hành vi mới liên quan đến nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; việc thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo; việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký, tạo lập hoặc phát tán thông tin trái quy định; cũng như các hành vi thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua bán, khai thác dữ liệu số trái quy định. Đây là sự bổ sung có ý nghĩa cả trước mắt và lâu dài.
Khi hoạt động lãnh đạo, quản lý và đời sống xã hội chuyển mạnh lên môi trường số, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng, còn trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào quá trình xử lý thông tin và hỗ trợ quyết định, thì rủi ro và hành vi vi phạm cũng thay đổi. Kỷ luật của Đảng vì vậy phải theo kịp sự dịch chuyển của phương thức hoạt động và phương thức thực thi quyền lực.
Điểm cần nhấn mạnh là việc đưa những hành vi mới vào phạm vi điều chỉnh, tạo cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên nhận diện sớm giới hạn trách nhiệm, những nguy cơ mới và những hành vi không được thực hiện. Qua đó, Quy định tăng cường cơ sở nhận diện, cảnh báo và phòng ngừa sớm các rủi ro, hành vi vi phạm trong môi trường số, đồng thời tạo căn cứ rõ hơn cho việc xem xét, xử lý khi vi phạm xảy ra.
Quy định mới có sự kế thừa cơ chế bảo vệ đổi mới, sáng tạo, tiếp tục xác lập ranh giới trách nhiệm. Nội dung bảo vệ cán bộ, đảng viên năng động, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung không phải là điểm mới hoàn toàn của Quy định số 212-QĐ/TW. Quy định số 69-QĐ/TW đã đặt ra cơ chế xem xét miễn xử lý kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm đối với trường hợp đề xuất đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép, thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng gặp rủi ro hoặc xảy ra thiệt hại. Quy định số 212-QĐ/TW kế thừa tinh thần này và tiếp tục cụ thể hóa tại điểm e khoản 14 Điều 2 theo hướng xem xét miễn kỷ luật khi đáp ứng các điều kiện được quy định.
Nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Giữ nghiêm kỷ luật không đồng nghĩa với triệt tiêu sáng tạo. Ngược lại, kỷ luật đúng phải tạo ra ranh giới rõ ràng giữa đổi mới vì lợi ích chung với lợi dụng chủ trương đổi mới, cơ chế thí điểm hoặc khoảng trống quản lý để vụ lợi, trục lợi. Khi ranh giới trách nhiệm được xác định rõ, cán bộ có động cơ trong sáng, làm đúng chủ trương và vì lợi ích chung có cơ sở để chủ động, sáng tạo; đồng thời những hành vi núp bóng đổi mới để vi phạm phải được nhận diện và xử lý nghiêm.
Đây là yêu cầu quan trọng để vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương, vừa tạo môi trường thúc đẩy đổi mới và phát triển. Điều cốt lõi là phải phân định rõ giữa vi phạm do vụ lợi, tùy tiện, lợi dụng cơ chế với rủi ro hoặc thiệt hại phát sinh trong quá trình thử nghiệm, đổi mới đã được cấp có thẩm quyền cho phép, được thực hiện đúng chủ trương, với động cơ trong sáng và vì lợi ích chung. Phân định đúng ranh giới này vừa bảo đảm kỷ luật, vừa tránh tâm lý sợ sai, né tránh, làm triệt tiêu động lực đổi mới.
Kỷ luật gắn với giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả
Một điểm xuyên suốt trong Quy định số 212-QĐ/TW là tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của kỷ luật với yêu cầu giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả. Mục đích của kỷ luật đảng không chỉ là áp dụng hình thức xử lý đối với một tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm, mà thông qua xử lý để cảnh tỉnh, giáo dục, ngăn ngừa vi phạm; qua từng vụ việc để phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, quản lý và kiểm soát quyền lực. Việc quy định cụ thể hơn về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; thái độ nhận trách nhiệm; việc chủ động ngăn chặn, khắc phục hậu quả và những tình tiết liên quan giúp việc xem xét kỷ luật sát hơn với bản chất của từng vụ việc.
Qua đó hạn chế cả hai khuynh hướng: xử lý không nghiêm, không tương xứng với vi phạm hoặc áp dụng kỷ luật cứng nhắc, thiếu xem xét đầy đủ bối cảnh, động cơ và kết quả khắc phục. Theo tinh thần đó, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật cần được nhìn nhận không chỉ như công cụ phát hiện, xử lý sai phạm, mà còn là cơ chế cảnh báo sớm, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa rủi ro và góp phần hoàn thiện thể chế. Qua kiểm tra, giám sát phải kịp thời nhận diện những sơ hở, bất cập, những điểm dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để chấn chỉnh từ sớm, từ xa; đồng thời tạo hành lang trách nhiệm rõ ràng cho cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Có thể khái quát những nội dung đáng chú ý của Quy định số 212-QĐ/TW trên ba phương diện: Mở rộng, làm rõ phạm vi trách nhiệm để bảo đảm tính liên tục; bổ sung các lĩnh vực, hành vi và phương thức vi phạm mới, nhất là trong khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu thi hành kỷ luật công minh, chính xác, gắn với giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả. Những nội dung đó phản ánh yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới.
Để Quy định thật sự phát huy hiệu quả, trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần tổ chức nghiên cứu, quán triệt đầy đủ, nhất là những nội dung mới, lĩnh vực mới và hành vi vi phạm mới. Việc thực hiện phải thống nhất, chính xác, tránh cả tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm và tình trạng áp dụng máy móc, thiếu căn cứ.
Cùng với đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm; chú trọng nhận diện rủi ro trong quản lý dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và các mô hình mới; kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh ngay từ khi mới phát sinh dấu hiệu. Kỷ luật nghiêm không chỉ để xử lý sai phạm đã xảy ra, mà quan trọng hơn là ngăn ngừa vi phạm mới và tạo nền tảng cho phát triển lành mạnh, bền vững.
Quy định số 212-QĐ/TW vì thế không chỉ hoàn thiện căn cứ xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao ý thức trách nhiệm, củng cố kỷ luật, kỷ cương và tạo môi trường để đổi mới, sáng tạo đi đúng hướng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, thống nhất Quy định sẽ góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đồng thời bảo đảm kỷ luật, kỷ cương thật sự trở thành nền tảng và động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)