Đèn dầu soi sáng tuổi thơ
BẮC NINH - Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, miền núi quê tôi vẫn chưa có điện lưới. Tuổi thơ của thế hệ 7X, 8X chúng tôi gắn liền với những chiếc đèn dầu, ngày ngày được thắp lên khi bóng tối bắt đầu phủ xuống xóm làng.
Quê tôi nằm giữa một thung lũng, bao quanh là những dãy núi trùng điệp nối tiếp nhau. Ngày ấy, cứ đến lúc trời chạng vạng, cảnh vật ngoài sân, ngoài ngõ dần nhòe đi là tiếng người gọi nhau về nhà, tiếng xoong nồi lách cách trong bếp vang lên, cùng đó tiếng trẻ con í ới chơi đùa cũng thưa dần. Rồi từng nhà thắp đèn. Ánh sáng le lói sau khung cửa, thấp thoáng dưới mái hiên, nhà này nối nhà kia, nhìn từ xa tựa những vì sao nhỏ nằm rải rác giữa núi rừng.
![]() |
|
Tranh minh họa. |
Trong những ngôi nhà ở vùng quê của chúng tôi ngày ấy, chiếc đèn dầu thủy tinh bé bé là vật dụng quen thuộc. Thân đèn trong suốt, chứa dầu hỏa bên trong, phía trên là bấc đèn và bóng thủy tinh mỏng manh. Mỗi khi châm lửa, ngọn đèn bập bùng rồi đứng lại, tỏa ra thứ ánh sáng vàng dịu, đủ soi một góc nhà.
Ngoài những đêm có trăng, đèn dầu dường như là nguồn sáng duy nhất khi màn đêm buông xuống. Tất nhiên ngoài đèn dầu thì người ta còn dùng đèn pin nhưng rất hiếm. Ở phố huyện lúc bấy giờ có máy phát điện, nhưng chỉ bán điện cho một vài hộ kinh doanh và cứ đến 9 giờ tối là máy phát dừng hoạt động nên đèn dầu vẫn là phổ biến. Vào những phiên chợ, hoặc ở các ngõ xóm, chúng tôi thường bắt gặp người bán đèn dầu với hai bên xe đạp là hai chiếc sọt lớn, ở trong chèn đầy rơm để bảo vệ đèn và bóng thủy tinh.
Khi ấy, dầu hỏa phải mua từng lít, từng chai, chẳng phải lúc nào cũng sẵn như bây giờ. Vì vậy, nhà nào cũng có một chai dầu dự trữ và phải dùng tiết kiệm, mỗi ngọn đèn được thắp lên đều gắn với một việc cần làm. Nếu chẳng may hết dầu mà chưa kịp mua, những đứa trẻ lại được bố mẹ sai cầm đèn chạy sang hàng xóm xin, vay một ít. Chuyện ấy bình thường như việc cầm rá sang nhà bên vay bơ gạo. Hôm nay nhà này giúp nhà kia, ngày mai có thể lại đến lượt nhà mình. Cuộc sống còn thiếu thốn nhưng tình làng nghĩa xóm thì luôn đong đầy.
Với lũ trẻ chúng tôi, chiếc đèn dầu còn gắn liền với những buổi tối học bài. Ánh sáng nhỏ hắt xuống trang vở, soi bàn tay cầm bút còn vụng về. Những nét chữ, phép tính đầu đời được nắn nót trong khoảng sáng khiêm nhường ấy. Có nhiều hôm, hai chị em tôi ngồi sát bên nhau, cúi gằm xuống trang sách, mải mê làm bài. Mải học, chúng tôi chẳng để ý tóc mình đã bén vào ngọn lửa cháy sém, đến khi ngửi thấy mùi khét mới giật mình ngẩng lên.
Những hôm gió lùa, ngọn đèn chập chờn, chị em tôi lại mở sách dựng lên vừa chắn gió cho ngọn đèn, vừa gom ánh sáng về phía trang vở. Có lúc đèn tắt, mẹ lại lụi cụi tìm diêm châm đèn, chỉnh bóng rồi ngồi khâu vá hoặc đuổi muỗi cho chị em tôi học tiếp. Thường thì khi đi ngủ, nhà nào cũng tắt đèn, nhưng vì tôi sợ ma nên tối nào mẹ cũng thắp đèn rồi vặn nhỏ như hạt đậu cho tôi đỡ sợ. Đến khi đoán tôi đã ngủ say, mẹ mới nhẹ nhàng trở dậy tắt đèn. Dáng mẹ lom khom bên ngọn đèn, đôi bàn tay thoăn thoắt làm những việc quen thuộc, đến giờ vẫn là hình ảnh khiến tôi nhớ thương mỗi khi nghĩ về căn nhà cũ.
Sau này, khi đọc truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam, bắt gặp hình ảnh ngọn đèn dầu nhỏ nhoi giữa phố huyện nghèo, tôi bỗng thấy những năm tháng tuổi thơ như hiện về. Ngọn đèn trong trang văn và ngọn đèn trong ký ức tuy thuộc về những câu chuyện, bối cảnh khác nhau nhưng đều gợi lên cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, nơi con người chắt chiu từng chút ánh sáng giữa bao la bóng tối.
Trong ký ức của tôi về những năm tháng ấy, ngoài chiếc đèn dầu thủy tinh truyền thống, một vài gia đình khá giả trong xóm như nhà bác Gắn, nhà chú Dũng… còn có đèn măng sông. Ánh sáng của chúng mạnh hơn hẳn, đủ làm sáng cả một khoảng không gian rất rộng. Nhưng loại đèn ấy không phải lúc nào cũng được thắp, thường chỉ dùng khi nhà có việc. Và ánh sáng từ chiếc đèn măng sông cũng gắn bó với những đêm diễn văn nghệ “cây nhà lá vườn” đầy ắp niềm vui.
| Chiếc đèn dầu giờ đây đã vắng bóng trong cuộc sống thường ngày nhưng ánh sáng của nó vẫn vẹn nguyên trong ký ức của những đứa trẻ miền núi. Đó không chỉ là ánh sáng soi trang vở mà còn là ánh sáng của tình thân, của tình làng nghĩa xóm, của những niềm vui bình dị. Ánh sáng ấy đã cùng chúng tôi đi qua những năm tháng đầu đời, để rồi khi lớn lên, xa quê lập nghiệp, tôi vẫn nhớ về nó như một phần ký ức rực rỡ nhất, ấm áp và thân thương, soi sáng cả tuổi thơ mình. |
Để tổ chức những buổi tối như vậy, bọn trẻ trong xóm thường tụ tập để giao nhiệm vụ cho từng đứa. Tôi được giao dàn dựng chương trình, viết kịch bản, thậm chí kiêm luôn cả… diễn viên. Cái Hằng, cái Lệ hát hay thì làm ca sĩ, mấy đứa khác tham gia đóng kịch, làm diễn viên quần chúng. Sau vài buổi tập, thường thì buổi tối thứ Bảy cuối cùng của tháng sẽ được chọn để tổ chức “công diễn”. Địa điểm được chúng tôi chọn là nhà chú Dũng. Lý do chú Dũng là bố của một thành viên trong nhóm, lại là người khá dễ tính. Nhà chú có đèn măng sông, có khoảng sân gạch rất rộng và sạch sẽ, phía trên có bậc thềm để làm sân khấu. Ở đó, chiếc đèn măng sông được thắp sáng trưng. Bố mẹ và các cô bác hàng xóm trải chiếu vừa ngồi xem chúng tôi múa hát, vừa uống nước chè, trò chuyện.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn thuộc lòng các bài hát từng "biểu diễn" trong những buổi tối năm nào, như: “Từ rừng xanh cháu về thăm lăng Bác”, “Cánh én tuổi thơ”, “Em là bông hồng nhỏ”, “Em đi giữa biển vàng”, “Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội”, “Em như chim bồ câu trắng”… Những vở kịch tự biên tự diễn như “Thạch Sanh”, “Sơn Tinh - Thủy Tinh”… khiến “khán giả” cười nghiêng ngả. Mỗi khi kết thúc một tiết mục, những tràng pháo tay giòn giã lại vang lên. Đứa nào đứa nấy vui sướng, mặt rạng ngời. Lúc cao hứng, có cô chú còn lên hát cùng. Kết thúc chương trình văn nghệ, chúng tôi còn chơi rồng rắn lên mây, thả đỉa ba ba… vui đùa thỏa thích đến đêm muộn mới kéo nhau ai về nhà nấy. Tuổi thơ cứ thế trôi qua, bình yên và trong trẻo như vậy.
Bây giờ ở quê tôi - những xóm nghèo năm xưa đã lên phố, đường sá sáng trưng, nhà cửa san sát, lung linh ánh điện. Trẻ nhỏ học bài dưới ánh đèn sáng rõ, có loại đèn còn có thể chống cận. Chẳng có ai còn phải lo dầu cạn giữa chừng hay lấy trang sách che gió cho ngọn lửa. Cuộc sống đủ đầy hơn, những nhọc nhằn ngày cũ cũng dần lùi xa. Vậy mà đôi khi, giữa những đêm phố phường sáng rực ánh đèn, tôi vẫn nhớ nao lòng chiếc đèn dầu bé nhỏ của ngày xưa. Nhớ mùi dầu hỏa ngai ngái, tiếng “phụt” khẽ khi ngọn lửa gặp gió, nhớ mùi tóc cháy khét, nhớ bàn tay mẹ châm đèn và khoảng sân sáng trưng ánh đèn măng sông rộn rã tiếng cười, tiếng hát thuở nào.
Chiếc đèn dầu giờ đây đã vắng bóng trong cuộc sống thường ngày, nhưng ánh sáng của nó vẫn vẹn nguyên trong ký ức của những đứa trẻ miền núi chúng tôi. Đó không chỉ là ánh sáng soi trang vở mà còn là ánh sáng của tình thân, của tình làng nghĩa xóm, của những niềm vui bình dị. Ánh sáng ấy đã cùng chúng tôi đi qua những năm tháng đầu đời, để rồi khi lớn lên, xa quê lập nghiệp, tôi vẫn nhớ về nó như một phần ký ức rực rỡ nhất, ấm áp và thân thương, soi sáng cả tuổi thơ mình.
Bắc Ninh














Ý kiến bạn đọc (0)