Mơ theo suối Hoa Đào
Sáng sớm mịt mùng sương. Sương dày đến mức cảm giác chỉ cần quờ tay là vốc được. Sương từ triền núi phía xa trườn xuống, quyện trong gió bãi bồi thành từng đợt mênh mang, cuồn cuộn. Người trong vùng vẫn nói bâng quơ: “Sông cũng biết soi mình, nên mỗi ngày đều thay áo”. Và khi sương tan dần, tấm áo ấy rõ vạt màu xám tro và xanh ngọc.
![]() |
|
Minh họa: Văn Tĩnh. |
Nhà Lưu ba đời theo nghề khảm trai. Thuở trước, đàn ông trong gia đình đều ngụp dưới lòng sông, lấy sông làm nguồn sống. Chiều nào cha Lưu cũng nói trong hơi men: “Trai sông nào mang hồn sông ấy”. Lưu nghe mãi thành quen, mủm mỉm cười hiền. Sau này, khấm khá hơn, nhà Lưu không ai phải tự mình lặn ngụp dưới sông như thời ông cha nữa. Mùa nước cạn, thợ mò trai tận mạn Lục Nam sang, lắm khi cả người từ Chi Lăng xuôi xuống, tụ về đông như hội. Từ lúc trời còn quánh đặc sương, ngõ xóm đã rộn tiếng bước chân, tiếng thúng tre lộc cộc. Từng dáng người gầy guộc đi thành tốp nhỏ, bước dọc bãi bồi rồi tỏa xuống lòng sông. Mỗi người một cách lặn riêng, không ai giống ai. Người trầm mình nhẹ như rắn nước. Người đạp mạnh một cái, tung bọt trắng xóa rồi cắm đầu xuống sát bùn.
Nước sông lúc tinh mơ lạnh như kim châm. Vỏ trai sắc lẹm như gương mảnh. Khúc quanh dòng sông Thương, đoạn nước rẽ đường ôm lấy bãi Soi chính là nơi vỏ trai đọng nhiều nhất. Nước ở đó xoáy chậm, mọi thứ từ thượng nguồn và các nơi dòng sông đi qua, trôi về đều trú lại: Rễ cây mục đen như than, sành sứ vỡ, đồ đạc cá nhân… Lưu luôn nghĩ, khúc quanh ấy còn giữ cả những điều mà mắt người đời không bao giờ nhìn thấy. Dưới làn nước mỏng manh kia, vỏ trai óng thêm nhờ phù sa, cát mịn, rong rêu… và bao nỗi niềm đời sông kết tụ thành lớp lớp xà cừ. Thợ khảm trai lành nghề như Lưu hiểu rõ hơn ai hết, sắc xà cừ không hẳn chỉ từ nước trong. Sắc óng xanh, óng tím, óng bạc thế kia đều được tôi luyện từ quặn thắt, im lìm đáy sâu. Phải qua bao bóng đêm của cuộc đời mới tráng được thêm lấp lánh.
***
Nhà Lưu tọa trên triền đất hơi cao, mỗi buổi sáng, sương từ mặt sông vẫn bay vào, phủ lớp trắng mịn lên tận mái ngói đã um rêu. Gia đình đông con, bảy anh chị em, tiếng nói tiếng cười lúc nào cũng ắp đầy như cái chợ nhỏ bên mom. Mẹ tất bật suốt ngày với bếp núc, phơi xà cừ, cơm nước. Bố cặm cụi với đục giũa, thợ thuyền. Trong cái không gian náo nức tất tưởi quanh năm ấy, điều khiến Lưu luôn mềm lòng là cô em gái út tên Vi.
Vi mười tuổi, hồn nhiên, chân chạy nhanh hơn miệng nói, thoáng cái đã thấy bóng con bé lượn ra đầu ngõ rồi lại vòng về. Tóc Vi chớm vai, bay bay, phần mái bên trái luôn lấp loáng cái cặp khảm trai Lưu làm dành riêng cho em. Cặp tóc nhỏ xinh, chỉ bằng hai đốt ngón tay, Lưu chọn mảnh xà cừ tím lẫn vệt biếc xanh, mài cong nhẹ theo dáng cánh hoa, gắn vào thanh nhôm bé xíu. Lúc Vi cài lên tóc, ánh lên tựa mặt nước sông hứng nắng ban mai. “Con trai trông đen đúa thế, mà sao bên trong vỏ lại sáng bóng, đẹp đẽ vậy hở anh?”, Vi hay hỏi, mắt long lanh, ý muốn đợi chờ một bí mật. Lưu nhìn em, cười hiền: “Vì nó lấy ánh sáng từ những nơi tối nhất trong lòng sông. Muốn sáng thì phải chịu đựng như thế”. Vi chớp mắt đầy ngạc nhiên. Rồi con bé lại chạy đi chơi, cặp khảm trai lấp lánh theo từng nhịp bước.
Vi luôn khiến căn nhà ấm áp. Mọi tranh cãi dù gay gắt đến đâu, chỉ cần con bé ló mặt ra, giọng lanh lảnh “Bố mẹ ơi! Anh Lưu ơi!” là tất cả sẽ giãn ra, chùng xuống. Lưu vẫn giữ thói quen mỗi lần chọn được miếng xà cừ đẹp, đều để riêng một mảnh làm thứ gì đó xinh xinh cho Vi. Con bé lí lắc, mỗi chiều ra bờ sông chơi đều nghiêng đầu khoe với lũ bạn: “Anh Lưu làm đấy!”
***
Gió cứ thổi mãi, mang theo mùi cỏ ướt và phù sa. Bên mạn thuyền, ông Hạo vẫn gõ mái chèo đuổi cá dù mấy hôm nay chẳng thấy ông cất lên được mẻ nào. Buổi sáng cuối đông năm ấy, ông nhìn Vi lâu hơn, giọng chậm rãi: “Lại gần đây, ta kể cho mà nghe chuyện đầu nguồn”. Vi nhón bước, mắt tròn xoe, mũi hít khẽ mùi sông. Lưu ngồi xuống mép thuyền, mắt nhìn dòng nước xanh lơ chậm trôi.
Ông Hạo kể, các bậc cao niên trong làng kể lại, đầu nguồn dòng sông ở mãi Lạng Sơn, đó là con suối có tên gọi Hoa Đào. Xuân đến, hoa từ rừng rụng, phủ kín mặt nước. Dòng nước xôn xao, ửng hồng như má thiếu nữ, mơ màng đến mức ai ngắm nhìn cũng phải lặng thinh và chẳng bao giờ quên được… Vi thò tay chạm xuống mặt nước, mắt sáng lên: “Thế dòng nước hoa đào ấy chảy về tận đây hở ông?” Ông Hạo gật đầu, mái chèo khua tạo những vòng nước loang loáng: “Ừ, về đây thành sông Thương. Trông thì hiền hòa, mềm mại, mà đáy sâu bao nhiêu là bí ẩn. Người phàm chỉ thấy bề mặt thôi”. Ông càng nhìn Vi lâu hơn, ánh mắt nửa trìu mến, nửa ngỡ ngàng: “Con bé này… giống một người mà ta từng gặp ở suối Hoa Đào. Mắt trong veo như sương mới tan. Người ấy… được sông thương và…”. “Và sao ông?”, Vi sốt sắng hỏi, ông Hạo im lặng, nhìn mãi phía thượng nguồn. Mái tóc cài cặp khảm trai của Vi như chợt ánh lên sắc hồng phơn phớt. Lưu lạc vào ảo giác, những cánh hoa đào đang rụng rơi, chạm vào vai mình, mát lạnh mà mong manh. Ông Hạo chống mái chèo xuống nước, giọng u trầm: “Sông này biết thương người, nhưng cũng hay thử lòng người”. Gió thổi, Vi bé bỏng, run run bờ vai, ôm chặt cánh tay anh trai.
***
Gian xưởng nhà Lưu rộng rãi, ngổn ngang sập gụ tủ chè, khung tranh… đang hoàn thiện. Vỏ trai lấy về đều được ngâm nước làm mềm, mài bằng đá mịn, gọt từng đường nét, rồi mới tính toán, ghép vào từng nơi từng chỗ. Mỗi công đoạn đều đòi hỏi miệt mài, kiên nhẫn, tinh tế hết sức có thể. Chỉ một sai sót nhỏ cũng đánh mất đi vẻ sống động, ánh xà cừ không thể thẳm sâu, huyền ảo nữa. Lưu biết, thi thoảng vẫn có những người thợ láu cá, tắt mắt, đánh tráo xà cừ. Lưu kiểm hàng, phát hiện lỗi, những khoảng mờ nhòe ấy, ánh sáng như lạc đường, sắc màu không đúng độ. Lưu khó mắng chửi hay đuổi việc, vì thợ làng phần lớn là anh em trong họ mạc, gắn bó, quen nếp từ lâu. Có món đồ Lưu cố khắc phục được, có món đành chịu.
| Ở miền suối Hoa Đào, Lưu khảm nhiều nhất là hình con chim nhỏ, đôi mắt đen long lanh như mắt Vi hồi bé. Lâu lâu, ngồi một mình bên suối, Lưu lại có cảm giác em gái đang đứng đâu đó, gọi anh bằng giọng trong veo. Có lần, đang ngồi cẩn lại mảnh cánh cho một con chim nhỏ, Lưu chợt sững người. Từ phía suối chảy xuống, trong nước róc rách, anh nghe có tiếng cười mỏng tang tiếng Vi mỗi khi trốn nhà chạy ra sông nghịch nước. Ngoảnh lại, từ khoảng không mờ sương, những cánh hoa đào rơi rơi, mặt nước bừng lên ấm áp. |
Cuối năm, khắp đường làng ngõ xóm, khói bếp bay nghi ngút, tiếng cười nói, tiếng rao bán lá dong, măng, củi… rộn ràng. Trẻ con chạy nhảy khắp bến bãi, tay phất phơ hoa mào gà, cỏ đuôi chồn còn đẫm sương mai. Chợ mom sông, các bà bán hàng đã bắt đầu cân đong bột nếp, đường, mật. Nhà Lưu, giữa gian lớn, mái rêu ửng dưới mặt trời ngày lạnh, khắp ngóc ngách thoảng hương gỗ và mùi nhựa thông. Trong từng gian xưởng, thợ khảm trai luôn tay để kịp giao hàng cho khách chơi Tết. Từng mảnh xà cừ ánh bạc, ánh xanh nhảy múa theo tay người thợ. Trong bếp, mẹ và các chị quây quần, giã giò, gói bánh, thi thoảng lại liếc sang Lưu.
“Cậu Lưu nhà mình năm nay cũng sắp ba mươi, chừng nào cho nhà ta ăn cỗ?”; “Đến bé Vi cũng lớn thế kia rồi”; “Phải đó, cưới vợ đi, rồi con đàn con lũ, để Vi có cháu chơi cùng, bớt chạy nhảy đi”… Lưu lại vẫn chỉ cười, tay miết nhẹ từng mảng xà cừ kiểm tra độ bóng. Chỉ mình Lưu biết, trong những đêm ngồi bên bàn khảm, lòng anh thoáng hiện lên dáng vẻ một cô gái vẫn thường đứng phía mũi đò, nghiêng người buộc sợi dây chão đã sờn. Hoài là con gái ông Hạo. Khuôn mặt rám nắng, mắt lúc nào cũng như cười, mái tóc đen tết gọn sau lưng. Hoài chở đò phụ mẹ từ lúc bằng tuổi Vi, quen sóng, quen nước, quen cả những buổi trưa mặt trời dát xuống mặt sông. Mái chèo trong tay Hoài nhịp nhàng, khoan thai nhưng cũng thật mạnh mẽ giữ được con đò giữa những dòng chảy ngầm xoáy vặn.
Mỗi trưa, xưởng nghỉ ngơi, Lưu tìm cớ ra bến. Lưu đắm đuối nhìn mãi dáng Hoài chèo đò. Cái duyên của Hoài như mang hơi thở của sông, của phù sa đằm lắng. Lưu đã thầm nghĩ, nếu đời thuận thảo, biết đâu, một ngày… Con đò của Hoài luôn tạt bến đúng quãng ánh sáng chông chênh nhất của buổi trưa. Từ xa đã thấy dáng cô đứng thẳng ở mũi đò, mái tóc buộc lỏng bằng một sợi dây vải, đuôi tóc đen dày hơi ướt nước. Cái dáng ấy, vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại khiến Lưu lần nào nhìn cũng bối rối.
- “Nay nước lên nhanh quá, Hoài nhỉ?” - Lưu kiếm cớ bắt chuyện.
- “Thì nước dòng Thương vốn thất thường mà. Hôm qua đưa đò, còn cảm giác như chạm đáy. Thế mà nay nước tràn cả bậc đá rồi...” - Giọng Hoài trong và ấm, hòa vào tiếng sóng long bong vỗ mạn đò.
- “Gần Tết rồi, khách qua lại nhiều, Hoài mệt lắm không?”. Lưu chống tay vào thành đò, mắt lảng tránh.
- “Thì… đôi khi. Nhưng ở nhà mãi cũng gò bó, xuống đò thích hơn” - Hoài đáp với nụ cười hàm tiếu.
Lưu thấy tim mình đập như ai gõ nhẹ. Anh nhìn mái chèo, bỗng thấy đó là cái cớ để kéo dài cuộc đứng bên nhau.
- “Mái chèo có chỗ mục rồi. Để tôi làm cho Hoài cái mới”
Hoài nhìn anh, ánh mắt tinh nghịch xen chút dịu dàng:
- “Anh Lưu khảm trai mà cũng rỗi rãi đến mức đi đóng mái chèo cho tôi à?”
Lưu khụt khịt mũi che sự lúng túng:
- “Thì… cũng có lúc rảnh”.
Hoài cúi xuống thắt lại túm dây buộc mũi đò. Làn tóc rũ xuống má, Lưu quay vội giấu vẻ bần thần, khấp khởi đang vấn víu trong lòng. Ngoảnh lên, đã thấy con đò rời bến. Mũi đò rẽ nước thành hai dải trắng xanh. Hoài đứng xoay lưng lại, dáng nghiêng nghiêng, mến thương đến khó tả. Lưu ngẩn ngơ trên bậc đá, trong túi áo anh, mảnh xà cừ tuyệt đẹp dành riêng định làm quà gì đó cho Hoài như âm thầm lóe sáng.
***
Nhiều năm trôi qua, khi ô tô dừng lại ở con dốc lên đê, Lưu bỗng đứng lặng. Mùi gió ngai ngái, quen thuộc đến mức gai người. Ký ức về Hoài, về Vi, về buổi trưa định mệnh năm ấy… theo nhau kéo về nguyên vẹn. Lưu đã rời quê từ lâu, lên tận mạn suối Hoa Đào, nơi núi đá dựng đứng như sống lưng ngựa già. Ở đó, anh vẫn giữ nghề khảm trai, cặm cụi tối ngày với vỏ xà. Ai cũng khen Lưu tài hoa. Chỉ Lưu mới khảm được đàn con chim lửa, đầm sen cánh mỏng như lụa. Không ai biết đôi bàn tay ấy từng run lên và suốt thời gian dài chẳng làm nổi việc gì.
Trưa năm ấy, nước lặng, bóng làng đổ dài, con đò nhỏ dập dềnh, tiếng nước táp nhẹ như ru cả bến sông đang khoác áo màu tro nhạt. “Anh Lưu ơi! em ra bến sông xem nước lên chưa nhé!”, Vi thì thào qua cửa sổ buồng Lưu. Không thấy anh đáp, nó nhảy chân ra khỏi nhà. Đò nhà ông Hạo neo hờ. Hoài đang chống sào. “Rét thế này, ra đây làm gì, Vi?” - Hoài hỏi. Con bé dúi hai tay vào túi áo, chun mũi, giọng vừa nũng nịu vừa sốt sắng: “Chị Hoài chở em sang bờ kia với. Em muốn xem cái cây thị nhà bà Cự còn sót quả nào không?” Hoài nhìn kỹ: “Bố mẹ biết không? Anh Lưu biết không?”. Nó gật lia lịa, má ửng hồng vì nói dối. Vi lon ton bước lên boong gỗ. Con bé ngồi phía trước, hai chân đung đưa, mắt dõi theo làn sương mỏng bên kia bờ. Đúng lúc đò lưng lửng giữa dòng, gió từ thượng nguồn bỗng đổi hướng, thổi quẫy lên từng luồng mạnh bất thường. Hoài đẩy sào, giật mình thấy nước ngầu như ai đó đang quấy đáy sông lên. “Vi, vào trong đi, gió to rồi”- Hoài gọi. “Không sao đâu chị, em không sợ!” - Vi quay lại cười, nụ cười vô ưu. Ngay khoảnh khắc ấy, con đò khựng lại. Hoài cảm thấy sào đẩy xuống mà không xuống được. Có gì đó chặn ngang dưới mặt nước. Một tiếng “cộp” mơ hồ vọng lên từ lòng sông. Hoài sững lại. Cảm giác ấy quen lắm, như một vật căng, mảnh, vô hình mà dân đi đò vẫn cảnh báo. “Ngồi yên! Đừng động đậy!” - Hoài hét lên, tay siết chặt cán sào. Gió bất ngờ quất mạnh quá. Đò chao sang một bên, rồi lật nghiêng. Mọi thứ xảy ra nhanh đến mức Vi chưa kịp kêu một tiếng. Cả hai rơi xuống nước, bị hút vào vùng xoáy khủng khiếp ở khúc cong. Hoài cố nhoài tay tìm Vi. “Vi! Bám vào chị!”. Hoài hụp xuống, lại trồi lên, ngạt nước. Lúc có người làng ngang qua phát hiện, chỉ còn cứu được Hoài. Lưu không bao giờ quên được ánh mắt hoảng loạn của Hoài hôm đó, cũng chẳng quên cảm giác gối mình như sụp xuống khi nhìn Vi bé nhỏ, sũng nước.
Ở miền suối Hoa Đào, Lưu khảm nhiều nhất là hình con chim nhỏ, đôi mắt đen long lanh như mắt Vi hồi bé. Lâu lâu, ngồi một mình bên suối, Lưu lại có cảm giác em gái đang đứng đâu đó, gọi anh bằng giọng trong veo. Có lần, đang ngồi cẩn lại mảnh cánh cho một con chim nhỏ, Lưu chợt sững người. Từ phía suối chảy xuống, trong nước róc rách, anh nghe có tiếng cười mỏng tang tiếng Vi mỗi khi trốn nhà chạy ra sông nghịch nước. Ngoảnh lại, từ khoảng không mờ sương, những cánh hoa đào rơi rơi, mặt nước bừng lên ấm áp.
Tết này, Lưu về cùng vợ con. Khắp vườn đào phơn phớt hồng, lộc non xanh mơn mởn. Những gốc bưởi lác đác quả chín vàng còn sót lại, mùi nắng nhẹ hòa với hương đất ẩm sau cơn mưa đón xuân. Nhà xưởng đã khác xưa, khang trang sáng bóng, sân rộng gạch lát phẳng phiu phản ánh ban mai. Anh chị em trong nhà quây quần, nhâm nhi chén trà, cười nói rôm rả. Ký ức về Vi và Hoài vẫn len lỏi đâu đó trong ánh sáng. Vợ Lưu tháo vát, dịu dàng, vừa sắp xếp nồi niêu vừa nhắc nhở con: “Đùa vừa thôi, ra phụ bà, phụ mẹ làm cỗ Tết”.
Nghề khảm trai nhà Lưu giờ đã vươn ra khỏi quê hương. Sáng sớm, Lưu bế con út ra bến đò. Dòng Thương lặng lờ, loang loáng dưới nắng xuân. Khúc quanh một thời lam lũ mò trai giờ chỉ còn gợn lăn tăn phản chiếu mây trời. “Bố ơi! sao nước lại có hai màu thế?”, con gái lớn của Lưu thắc mắc. Anh giải thích: “À… đó là nơi hai dòng nước gặp nhau, nhưng không hòa vào nhau, nên mới thành hai màu”.
Bến đò cũ, dòng nước cũ, sau bao tháng năm, giờ lại yên bình, hiền hòa dù ký ức vẫn chập chờn gợn sóng miên man, mờ ảo.
Bắc Ninh










.jpg)






Ý kiến bạn đọc (0)