Từ trầm tích nghìn năm đến dáng hình Tổ quốc
TỔ QUỐC
Nếu có thể đo xương máu tiền nhân
Trường Sơn ngút ngàn dễ gì so được
Bao người mẹ, người vợ, người em - nước mắt
Hồng Hà, Cửu Long đâu thể sánh cùng
Bão trường chinh ào ạt mấy ngàn năm...
Ào ạt mấy ngàn năm... châu thổ
Những bờ đê chắn lũ, ngăn thù
Cùng bọc trứng các con đi trăm ngả
Vẫn thắm lòng dưa hấu chốn đảo xa
Ào ạt mấy ngàn năm, Thánh Gióng
Mới lên ba đã giáp sắt, tre ngà
Câu thơ thần nhuộm đỏ sông Như Nguyệt
Đỏ Bạch Đằng cuồn cuộn sóng bể xa
Mấy ngàn năm... Vọng Phu xứ Bắc
Phụ Tử bùi ngùi doi đất trời Nam
Những cuộc chia ly, những vành khăn trắng
Chẳng nguôi ngoai dù xác giặc chất chồng
Chẳng thể dịu nỗi Rạch Gầm, Xoài Mút
Hiền Lương, Khâm Thiên, Sơn Mỹ, Thổ Chu
Máu Vị Xuyên, Gạc Ma bầm chát
Vạn nghĩa trang hương khói nguyện cầu
Ôi Tổ quốc, biên cương chưa yên giấc
Đêm quặn lòng máu thịt Hoàng Sa
Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão
Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà.
Nguyễn Thế Kỷ
![]() |
|
Các chiến sĩ tuần tra bảo vệ vùng biển thuộc đảo Phan Vinh B, Đặc khu Trường Sa. Ảnh: TTXVN. |
Lời bình:
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, là một cây bút có nội lực sáng tạo phong phú. Không chỉ là một nhà lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, ông còn có nhiều đóng góp trên lĩnh vực sáng tác. Ông là tác giả bộ tiểu thuyết “Nước non vạn dặm” gồm 5 tập viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời biên soạn nhiều tác phẩm sân khấu và sáng tác nhiều bài thơ về Trường Sa.
Gần đây, bài thơ “Tổ quốc” của ông nhận được sự chú ý bởi cách nhìn riêng và những cung bậc cảm xúc mới mẻ khi viết về một đề tài vốn quen thuộc. Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, hình tượng đất nước, Tổ quốc đã trở thành nguồn cảm hứng lớn, từng được thể hiện qua nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm hay “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” của Chế Lan Viên. Với “Tổ quốc”, Nguyễn Thế Kỷ không tìm đến những biểu tượng quá xa lạ mà trở về với lịch sử, địa danh, truyền thuyết và những mất mát của dân tộc để dựng nên hình hài đất nước qua chiều dài hàng nghìn năm.
Mở đầu bài thơ là khổ thơ 5 câu, khác với những khổ thơ còn lại gồm 4 câu, như một cảm hứng dào dạt lan tỏa, như những con sóng giao thoa để rồi lắng lại, đắp bồi lớp lớp phù sa cảm xúc, ngân vọng với những chiều dài địa danh đất nước và chiều sâu của những trầm tích ký ức lịch sử. Nhà thơ đã đặt câu hỏi: “Nếu có thể đo xương máu tiền nhân/ Trường Sơn ngút ngàn dễ gì so được”. Đó là khúc bi tráng, hào hùng không chỉ ở những trang sử vẻ vang, chói lọi mà ngay cả trong những số phận bi thương của những con người mà “Bao người mẹ, người vợ, người em - nước mắt/ Hồng Hà, Cửu Long đâu thể sánh cùng”.
Ở đây, lịch sử không chỉ hiện lên qua những chiến công mà còn qua những số phận con người. Sau mỗi cuộc chiến là những người mẹ chờ con, những người vợ chờ chồng, những người em ngóng anh và những cuộc đoàn tụ có khi không bao giờ đến. Hình ảnh Hồng Hà, Cửu Long vừa gợi không gian địa lý của đất nước, vừa trở thành những dòng sông biểu tượng, nhưng ngay cả sự mênh mang của những dòng sông ấy cũng không thể sánh với dòng nước mắt của "bao người mẹ, người vợ, người em" ấy. Đó chính là chiều sâu nhân văn của bài thơ: Nói về Tổ quốc nhưng không tách Tổ quốc khỏi con người.
Câu thơ dậy sóng cùng với cảm hứng trào dâng khi nhà thơ không nén được sự cộng hưởng, hòa vào hình thế cương vực, đất đai Tổ quốc: “Ào ạt mấy ngàn năm... châu thổ/ Những bờ đê chắn lũ, ngăn thù/ Cùng bọc trứng các con đi trăm ngả”. Mạch thơ mở ra chiều dài lịch sử: “Bão trường chinh ào ạt mấy ngàn năm...”. Điệp từ “ào ạt” được lặp lại nhiều lần trong bài thơ tạo nên nhịp điệu đặc biệt. Đó có thể là nhịp của thời gian, của những cuộc trường chinh nối tiếp nhau, nhưng cũng là nhịp của lịch sử dân tộc không ngừng vận động, chống chọi với thiên tai, ngoại xâm và những thử thách khắc nghiệt để dựng xây và gìn giữ non sông.
Trong đó, những truyền thuyết dân gian và lịch sử chính là tấm gương soi chiếu tâm hồn con người. Đó là truyền thuyết Mai An Tiêm: “Vẫn thắm lòng dưa hấu chốn đảo xa”; với Thánh Gióng: “Mới lên ba đã giáp sắt, tre ngà”; với Lý Thường Kiệt: “Câu thơ thần nhuộm đỏ sông Như Nguyệt” và Bạch Đằng giang “cuồn cuộn sóng bể xa”. Có thể nói, cảm hứng lịch sử là mạch cảm xúc, là những dư âm vang vọng để tượng hình nên một Tổ quốc mấy nghìn năm chống giặc ngoại xâm.
Cảm hứng bi hùng cứ đan xen nhau, trầm bổng tạo ra một âm hưởng với nhiều sắc thái, cung bậc, lắng lại với những chiêm nghiệm khi ngẫm ngợi về: “Mấy ngàn năm... Vọng Phu xứ Bắc/ Phụ Tử bùi ngùi doi đất trời Nam”. Phải thật tinh tế, nhà thơ mới nhận ra nước non đã tạc nên “Những cuộc chia ly, những vành khăn trắng”. Đây là một góc nhìn rất nhân văn, nhân hậu: “Chẳng nguôi ngoai dù xác giặc chất chồng”. Nhà thơ đã xướng tên một số địa danh từ đất liền ra biển, từ Nam ra Bắc, nơi có “Vạn nghĩa trang hương khói nguyện cầu”. Điều đó càng khẳng định rằng, để có Tổ quốc trọn vẹn hôm nay, chúng ta đã đổ bao xương máu và không thể nào quên những người đã ngã xuống.
Khổ thơ cuối: “Ôi Tổ quốc, biên cương chưa yên giấc” và “Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão” là một khúc cao trào của lòng yêu nước, của cảnh giới cao độ khi “Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà”. Trong thơ Nguyễn Thế Kỷ, đó là một Tổ quốc huy hoàng, quật cường; một Tổ quốc có cội nguồn bền vững và một Tổ quốc thật da diết, cảm động, thật cụ thể mà cũng thật dào dạt ân tình trong cảm hứng sử thi lan tỏa và sâu lắng...
Bắc Ninh















Ý kiến bạn đọc (0)