Còn đó hương quê
Quê hương đôi khi không hiện hữu ở những điều lớn lao, mà neo lại trong ta qua một hương vị quen thuộc nào đó như một chén trà xanh hay miếng bánh dân dã. Những hương vị bình dị ấy có thể theo con người suốt cả cuộc đời, nhất là với những người từng đi qua chiến tranh, từng gửi lại nơi chiến trường một phần tuổi trẻ.
“Còn đó hương quê” là câu chuyện về hai người lính từng gặp nhau giữa những ngày mưa lũ và bom đạn ở Quảng Trị năm 1972. Một miếng chè lam mẹ gửi theo người bạn vào chiến trường đã trở thành sợi dây nối những người con với quê hương, nối quá khứ với hiện tại và nối tình bạn qua hơn nửa thế kỷ. Khi chiến tranh đã lùi xa, những đổi thay của làng quê khiến người trong cuộc không khỏi bâng khuâng. Nhưng cũng chính từ một miếng chè lam, một ấm trà quê, họ nhận ra rằng: Quê hương có thể đổi thay hình hài, tên gọi, nhưng hương quê và tình người thì vẫn còn đó, trong ký ức và trong tâm hồn mỗi người con xa quê.
Truyện ngắn của tác giả Lê Ngọc Minh Anh, đến từ Hà Nội.
Quỳnh Hương (giới thiệu)
Sáng sớm, sau bài thể dục dưỡng sinh nhẹ nhàng, ông Hùng đặt ấm nước sôi, tráng bộ đồ trà mà cô con dâu đã rửa sạch bong từ chiều hôm trước. Mọi công việc thường lệ buổi sáng ấy được ông lão ngoài thất thập thực hiện một cách chậm rãi, có phần khoan thai, thậm chí cẩn trọng như một nghi lễ.
Trời đã vào thu thật sự. Từ cửa sổ căn phòng tầng hai trên một con phố nhỏ, hương hoàng lan thoảng nhẹ theo làn gió thu khiến không gian càng thêm thanh mát. Vậy là đã sang tháng Chín, cũng là những ngày mùa đẹp nhất trong năm của Hà Nội. Đây cũng là những buổi sáng mà ông Hùng cho phép mình thư giãn, chiều chuộng cái sở thích một thời trai trẻ...
Vậy mà đã hơn nửa thế kỷ. Ngày ấy, ông cùng lứa thanh niên trai tráng, hầu hết ở tuổi mười tám, đôi mươi, có những người còn chưa học hết phổ thông, tạm biệt quê nhà hòa vào đội ngũ trùng điệp của đoàn quân ra trận, chiến đấu giành độc lập, thống nhất, tự do cho đất nước. Ấy là vào những ngày bom đạn ác liệt năm 1972 nơi chiến trường Quảng Trị. Thấm thoắt, Hùng cùng đồng đội trong đội hình trung đoàn công binh cầu phà đã xa con sông Cầu, nơi họ được huấn luyện, làm quen với nghiệp vụ sử dụng những phao thuyền hiện đại của Liên Xô, ghép thành những cầu phao, con phà vượt sông.
![]() |
|
Minh họa: Văn Tĩnh. |
Năm ấy Quảng Trị mưa sớm. Mới cuối tháng Tám mà lũ đã về trên các con sông ở dải đất miền Trung này. Đó cũng là những ngày đơn vị công binh cầu phà của Hùng đang gồng mình bảo đảm giao thông nối hai bờ con sông Cam Lộ, chỗ cầu Đuồi, một cây cầu sắt bị bom Mỹ đánh sập ngay khi chiến dịch giải phóng Quảng Trị bắt đầu dạo tháng Ba.
Nói gồng mình là còn nhẹ nhàng. Những con sông nơi đây như Bến Hải, Thạch Hãn, Hiếu Giang... bình thường vô cùng thơ mộng, hiền hòa trong xanh chảy giữa hai hàng tre rủ bóng đôi bờ, qua những làng mạc vùng Gio Linh, Đông Hà, Cam Lộ, Triệu Phong... trước lúc xuôi ra biển nơi Cửa Tùng, Cửa Việt. Vậy mà chỉ sau một đêm mưa, lũ trên thượng nguồn đổ về là dòng sông đổi màu, bầm sắc đỏ của đất bazan, ào ào như muốn cuốn phăng những gì nó gặp trên đường.
Đấy cũng là thời điểm chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Những chuyến xe đưa vũ khí, đạn dược, lương thực, các đơn vị bộ binh hành quân qua phà hằng đêm. Ở chiều ngược lại là những chuyến xe đưa thương binh ra miền Bắc. Tình hình khẩn trương đòi hỏi các đơn vị của trung đoàn phải căng mình rải quân khắp các bến phà dã chiến, bảo đảm giao thông đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường.
Thường thì sau những đêm vật lộn với mưa lũ, chống trả những đợt oanh tạc của không quân và pháo hạm đối phương, khi đã ngụy trang kín đáo phao thuyền tránh sự soi mói của bọn OV-10, những người lính cầu phà trở về hậu cứ, chìm vào giấc ngủ hiếm hoi trong những căn hầm chữ A nép bên rặng tre ven sông Hiếu.
Vào một buổi sáng như vậy, lúc đang chìm trong giấc ngủ thật sâu sau một đêm cật lực chèo chống, Hùng chợt thấy như có một vật gì chạm nhẹ vào mũi, cùng lúc đó một mùi thơm quen thuộc khiến anh tỉnh hẳn, ra khỏi giấc ngủ và mở choàng mắt. Không thể tin được, một gương mặt thân quen với cặp mắt một mí nghịch ngợm đang ghé sát mặt anh. Hùng vòng tay ôm siết bạn và hét toáng lên: "Thằng Vũ, sao mày lại ở đây?".
Bằng một giọng rất “ông cụ non”, Vũ trả lời với một câu hỏi: "Thì tao cũng như mày, chỗ của bọn mình những ngày này theo mày còn có thể ở đâu khác nữa?".
Thì ra, đêm qua đơn vị Vũ cũng hành quân qua một bến phà do đơn vị Hùng đảm nhiệm và nghỉ lại tại hậu cứ của cánh công binh như nhiều đơn vị bộ binh khác để chập tối sẽ hành quân vào phía trong, tiếp sức cho các đơn vị đang bảo vệ Thành cổ. Với cái tính tháo vát, nhanh mồm nhanh miệng, Vũ không khó gì để có thể tìm thấy thằng bạn đồng hương mà nó biết là ở đơn vị công binh cầu phà, đang ngủ mê mệt trong một căn hầm. Để tạo sự bất ngờ và cũng là cách lôi Hùng ra khỏi giấc ngủ, Vũ lấy thỏi chè lam bọc kỹ trong mấy lần giấy báo, dí sát vào mũi bạn. Hiệu quả đã đến tức thì.
Khi hai thằng đã ngồi chia nhau điếu Tam Đảo bên gốc sung già ngoài bến nước, Vũ mới kể Hùng nghe đầu đuôi câu chuyện. Nhập ngũ sau Hùng chỉ gần 3 tháng, khi vừa qua kỳ thi tốt nghiệp cấp 3, Vũ đã trải qua những ngày vừa hành quân, vừa huấn luyện để kịp tham gia mùa hè đỏ lửa. Trước khi đi chiến trường, Vũ được về phép thăm nhà. Nó dành hẳn một buổi chiều đến thăm gia đình Hùng. Biết Vũ sẽ vào Quảng Trị, nơi Hùng đang có mặt, mẹ đã thức cả đêm, làm mẻ chè lam, món mà bà chỉ làm mỗi dịp Tết, cũng là món mà Hùng thích nhất khi còn ở nhà.
"U mày bảo, thằng Hùng thích chè lam phải thật ngọt, nhiều gừng nên u làm theo ý nó. Chè lam bán ngoài chợ nó không ưng. Chè lam này u làm kỹ, để mấy tháng cũng không hỏng. Con cố mang theo một ít, may mà gặp thì đưa cho nó hộ u. Thế mà tao gặp được mày thật. Chắc do u mày cầu giời khấn Phật cho hai thằng mình gặp nhau. Mà mày biết không, tao phải giấu kín, mấy đứa cùng tiểu đội mà biết thì có mà còn…"
Trưa hôm ấy, Vũ xin phép được sang đơn vị công binh ăn cơm với đồng hương. Buổi “tiệc trà” mừng Quốc khánh 2/9 - là cánh lính thích gọi thế cho sang - sau bữa cơm, cùng với mấy chiếc kẹo Hải Hà, bao thuốc lá Trường Sơn nhu yếu phẩm mới được cấp phát, có thêm thỏi chè lam làng Sậm do chính mẹ Hùng làm, chiêu với nước chè xanh Quảng Trị. Khỏi phải nói niềm vui, sự thích thú của đám lính trẻ trước món quà được mang từ hậu phương quê nhà. Riêng Hùng, anh cầm miếng chè lam trong tay mà lòng rưng rưng. Ngắm miếng chè lam sậm màu mật mía, với lớp bột bao trắng mịn, thơm nhẹ mùi gừng, Hùng như thấy hình ảnh mẹ cặm cụi làm bột, rang lạc, ngào mật… trong căn bếp nhỏ bập bùng ánh lửa mà anh ngồi cùng mẹ suốt đêm trước ngày lên đường. Chè lam là món không thể thiếu mỗi dịp lễ, Tết ở làng Sậm quê anh, một làng miền trung du tỉnh Hà Bắc. Đây là món bánh dân dã truyền thống, nổi tiếng với vị dẻo thơm của nếp cái hoa vàng, vị ngọt thanh của mật mía, cay ấm của gừng tươi và bùi béo từ lạc rang, mang đậm hương vị đồng quê. Riêng món chè lam mẹ Hùng làm, bao giờ cũng ngọt hơn một chút và cho khá nhiều gừng. Đấy là mẹ chiều khẩu vị của cậu con trai út. Cầm trong tay miếng chè lam như vẫn còn hơi ấm bàn tay mẹ, Hùng cứ rưng rưng mà nhớ, mà muốn thốt lên hai tiếng: Mẹ ơi…
***
Rồi chiến tranh cũng qua đi. Sau ngày đất nước thống nhất, cả Hùng và Vũ đều may mắn trở về. Hùng đi học rồi về công tác tại một tờ báo ở Hà Nội. Vũ chọn trở về quê hương, từ một anh đội trưởng sản xuất dần dà trở thành một ông chủ trang trại. Giờ hai vợ chồng Vũ đã có cả một đàn con cháu. Mẹ Hùng còn kịp đón anh về, cưới vợ cho cậu con trai út và điều làm bà vui nhất là lũ cháu nội cũng mê món chè lam bà làm y như bố nó ngày xưa...
Từ ngày mẹ mất, ông Hùng cũng thưa về quê, mỗi năm vài lần khi giỗ, Tết, hiếu hỉ. Lần nào cũng vậy, trong hành trang trở về thành phố, không bao giờ thiếu món chè lam. Dù cuộc sống đã đổi thay, món chè lam cũng biến tấu thành nhiều vị, được nấu bằng đường kính, pha vị gấc, trà xanh, lá nếp…, nhưng với ông Hùng, nhất vị vẫn là món chè lam truyền thống nấu từ mật mía, vị ngọt sắc, thơm đậm mùi gừng, thứ mà ở chợ nhiều khi khó kiếm. Biết được sở thích của bạn, ông Vũ thỉnh thoảng lại nấu một mẻ theo hương vị truyền thống, gửi bạn ăn dần, không quên kèm theo lời dặn chân tình: Ông ăn ít thôi, kẻo lại tiểu đường thì khổ.
Cũng từ dạo nghỉ hưu, ông Hùng có một cái thú, mỗi buổi sáng pha một ấm trà xanh Bản Ven, cũng từ quê gửi cho, nhấm nháp với một miếng nhỏ chè lam làng Sậm. Mỗi buổi sáng như vậy, thỉnh thoảng ông lại gọi cho ông Vũ ở quê, nói đủ thứ chuyện, rồi bao giờ cũng quay về chuyện quê nhà. Mấy hôm nay, chuyện lại quay quanh đề tài hợp nhất xã, phường, thay đổi tên thôn, tên phố. Điều mà ông Vũ trăn trở là những cái tên từ bao đời thân quen liệu có nguy cơ sẽ mai một... Sáng thu này, khi ngồi trước ấm trà, nhấm nháp miếng chè lam giữa lòng Hà Nội, ông Hùng chợt như thấy lời giải cho nỗi niềm của ông Vũ. Ông nhấc máy điện thoại, mở Zalo gọi cho ông bạn già. Khi hình ảnh ông Vũ ngồi bên bàn trà kê ngoài hiên đã hiện lên, ông cười khà khà hỏi bạn:
- Ông có thấy tôi đang làm gì đây không?
- Thì ông còn làm cái gì ngoài việc uống trà và nhấm nháp chè lam. Ăn vừa thôi không đường máu nó lại lên.
- Đấy, chính là điều tôi muốn nói với ông. Dù làng xã có sáp nhập, có đổi tên thì món chè lam làng Sậm vẫn mãi còn, trà Bản Ven vẫn cho nước xanh mà đậm hậu… Quê chúng mình đấy chứ là đâu mà ông cứ lăn tăn.
- Ừ, thì đành là như thế, nhưng cơ mà…
- Thôi, ông có nhớ hồi mình gặp nhau năm bảy hai ở Quảng Trị không, lúc ấy làm sao mà hình dung được có ngày tôi ngồi uống trà Bản Ven, nhấm nháp chè lam làng Sậm ở Hà Nội mà a lô tán dóc với ông ở tận quê thế này.
- Ừ, đúng là không thể tưởng tượng được. Mà hôm ấy cũng vào ngày Tết Độc lập ông nhỉ?
- Chứ còn gì nữa. Ông còn nhớ giỏi thế thì còn phải gửi chè lam cho tôi thật lâu nữa…
Ông Hùng khen bạn rồi cất tiếng cười sảng khoái, hòa cùng tiếng cười của ông bạn già đang vọng từ quê nhà.
Bắc Ninh














Ý kiến bạn đọc (0)